Chào mừng quý khách đã đến với Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP.Cần Thơ - Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Trang chủ
Giới thiệu>
Tin tức sự kiện>
Lĩnh vực chuyên môn>
Ấn phẩm thống kê
Văn bản>
Liên hệ
Sơ đồ
Tin tức & Sự kiện
Tình hình KT-XH tháng 03 năm 2019 - 27/03/2019

Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019 của thành phố phát triển khá ổn định, sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ đạt mức tăng trưởng khá so cùng kỳ. Thị trường hàng hóa, giá cả tương đối ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Công tác thông tin, tuyên truyền, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch diễn ra sôi nổi, phong phú, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân. Lĩnh vực an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được tích cực triển khai. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm thực hiện tốt. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ, cứu hộ cứu nạn cơ bản được đảm bảo. Kết quả đạt được trong quý I năm 2019 ở một số lĩnh vực cụ thể như sau:

1. Tài chính, ngân hàng

a. Tài chính ngân sách

* Thu ngân sách: Thực hiện đến 20 ngày tháng 3/2019, tổng thu NSNN 2.754,78 tỷ đồng đạt 19,83% dự toán, trong đó thu nội địa là 2.309,36 tỷ đồng với các nguồn thu chủ lực như thu thuế khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 462,35 tỷ đồng đạt 21,88% dự toán, thu từ doanh nghiệp nhà nước 378 tỷ đồng đạt 23,55% so dự toán, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 241,65 tỷ đồng đạt 19,65% so dự toán, thuế thu nhập cá nhân 215,07 tỷ đồng đạt 24,44% so dự toán. Tính đến 20/3/2019 hoạt động thu thuế hải quan ước đạt 136,72 tỷ đồng đạt 13,67% so dự toán.

* Chi ngân sách: Ước đến 20 ngày tháng 3/2019 ngân sách đã chi 2.785,69 tỷ đồng chiếm 24,21% dự toán, bao gồm hoạt động chi đầu tư phát triển 1.648,59 tỷ đồng, chi thường xuyên 1.136,93 tỷ đồng.

b. Tín dụng ngân hàng: Vốn huy động đến cuối quý I năm 2019 ước đạt 72.200 tỷ đồng, giảm 0,42% so với đầu quý. Trong đó, vốn huy động VNĐ là 70.500 tỷ đồng, chiếm 97,65%, giảm 0,31%, vốn huy động ngoại tệ là 1.700 tỷ đồng, chiếm 2,35%, giảm 4,66% so với đầu quý; vốn huy động ngắn hạn là 47.200 tỷ đồng chiếm 65,37%, tăng 0,52%, vốn huy động trên 12 tháng là 25.000 tỷ đồng chiếm 34,63%, giảm 0,22% so với đầu quý.

Tổng dư nợ cho vay đến cuối quý I năm 2019 ước đạt 78.800 tỷ đồng, tăng 1,51% so với đầu quý. Trong đó dư nợ cho vay VNĐ đạt 74.200 tỷ đồng, tăng 0,98% so đầu quý, chiếm 94,16% trong tổng dư nợ cho vay, dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 4.600 tỷ đồng, tăng 10,98% so với đầu quý, chiếm 5,84% trong tổng dư nợ cho vay; Phân theo thời hạn dư nợ cho vay ngắn hạn là 43.300 tỷ đồng, tăng 1,50% so đầu quý, chiếm 54,95%, dư nợ cho vay trung dài hạn 35.500 tỷ đồng, tăng 1,52% so đầu quý, chiếm 45,05% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu đến cuối quý I năm 2019 ước 2.300 tỷ đồng, chiếm 2,92% trong tổng dư nợ cho vay.

Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất trên địa bàn phổ biến như sau:

- Lãi suất huy động: Lãi suất huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến mức 0,2 - 1,0%/năm; lãi suất huy động có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,8% - 5,5%/năm; lãi suất huy động từ 6 đến 12 tháng phổ biến 5,3% - 6,5%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở mức 6,6% - 7,3%/năm tùy theo từng loại kỳ hạn.

- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 6,5%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến từ 7,0% - 9,0%/năm đối với ngắn hạn, 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn.

- Lãi suất USD: Lãi suất huy động thực hiện theo quy định là 0%/năm. Lãi suất cho vay phổ biến ngắn hạn 3,0% - 4,5%/năm, trung dài hạn 5,0% - 6,5%/năm.

2. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2019 tăng 0,06% so với tháng trước, tăng 1,18% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,53% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân cùng kỳ tăng 1,35%. Giá gas, giá xăng dầu tăng, lượng sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng cao trong tháng là những nguyên nhân chính làm tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 3.

Chỉ số giá tiêu dùng quý I năm 2019 tăng 0,03% so với quý trước, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước và tăng 10,20% so với kỳ gốc 2014. Giá thực phẩm, dịch vụ ăn uống, may mặc, thiết bị, đồ dùng gia đình tăng trong tháng Tết, lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng từ 01/01/2019 (tăng trung bình 5,3% so với năm 2018) theo Nghị định 157/2018/NĐ-CP, giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư 39/2018/TT-BYT từ tháng 12/2018 là những nguyên nhân chính làm tăng chỉ số giá tiêu dùng quý I năm 2019 so với quý trước.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm 2019, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 5 nhóm hàng có chỉ số giá tăng với mức tăng từ 0,04% đến 2,39% so với tháng trước; có 3 nhóm hàng hóa, dịch vụ giảm với mức giảm từ 0,04% đến 0,71% so với tháng trước; có 3 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá ổn định so với tháng trước.

Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số tăng so với tháng trước gồm: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,49%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; Giao thông tăng 2,39%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,62%.

Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,71%; Giáo dục giảm 0,04%; Văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,08%.

Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá ổn định so với tháng trước gồm: nhóm Đồ uống và thuốc lá; nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép và nhóm Bưu chính viễn thông.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 3 và quý I năm 2019 của các nhóm hàng chính

- Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

+ Lương thực

Chỉ số giá lương thực tháng 3 giảm 0,58% so với tháng trước. Giá một số mặt hàng gạo, gạo nếp giảm nhẹ so với tháng Tết (tháng 02/2019) thêm vào đó giá gạo giảm do nguồn cung tăng vì đang trong thời kỳ thu hoạch lúa Đông xuân, giá lúa đã tăng lên sau chủ trương thu mua lúa, gạo tạm trữ của Chính phủ nhưng giá mua của thương lái vẫn chưa đảm bảo vốn trong quá trình đầu tư sản xuất của nông dân, giá lúa vẫn còn thấp nên kéo theo giá gạo trong nước giảm. Giá khoai lang giảm mạnh do nguồn cung khoai lang đang dư thừa, khoai lang thu hoạch không tiêu thụ kịp, thương lái bỏ cọc không thu hàng đã làm giá khoai lang giảm sâu.

Chỉ số giá lương thực quý I năm 2019 giảm 0,29% so với quý trước, do nhu cầu tiêu dùng ổn định nhưng nguồn cung tăng mạnh vì vào mùa thu hoạch nên giá bình quân một số mặt hàng lương thực như gạo, khoai lang giảm so với giá bình quân quý trước.

+ Thực phẩm

 Chỉ số giá nhóm thực phẩm tháng 3 năm 2019 giảm 1,03% so với tháng trước do tác động của nhóm thịt gia súc tươi sống giảm 2,54%; thịt gia cầm tươi sống giảm 1,60%; trứng gia cầm các loại giảm 4,74%; thủy sản chế biến giảm 0,87%; các loại đậu và hạt giảm 0,42%; rau tươi, khô và chế biến giảm 2,60%; quả tươi, chế biến giảm 1,31% so với tháng trước. Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng thực phẩm như thịt gia súc, gia cầm, trứng gia cầm, thủy sản chế biến như tôm khô, mực khô và một số mặt hàng rau tươi, quả tươi giảm sau Tết Nguyên đán, nguồn cung hàng tăng do vào vụ thu hoạch, thêm vào đó trước thông tin dịch bệnh của gia súc đã ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng.

Chỉ số giá nhóm thực phẩm quý I năm 2019 tăng 1,83% so với quý trước do giá nhiều mặt hàng tăng mạnh trong tháng Tết Nguyên đán đã tác động làm chỉ số giá quý tăng so với quý trước.

+ Ăn uống ngoài gia đình

Chỉ số giá của nhóm dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,06% so với tháng trước và tăng 0,15% so với quý trước. Do giá nhiều dịch vụ ăn uống điều chỉnh giá trong quý I năm 2019 vì nhu cầu tăng, giá nguyên liệu cũng như chi phí nhân công, điện, nước tăng.

- Đồ uống và thuốc lá

Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá tháng 3 năm 2019 không đổi so với tháng trước. Chỉ số giá quý I năm 2019 tăng 1% so với quý trước do giá thuốc lá tăng do đầu năm các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý thị trường, thường xuyên kiểm tra các điểm bán buôn, bán lẻ thuốc lá nhằm ngăn chặn việc tiêu thụ thuốc lá nhập lậu nên kéo theo giá thuốc lá nội tăng lên.

- May mặc, mũ nón, giầy dép

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tháng 3 năm 2019 không đổi so với tháng trước. Chỉ số giá quý I/2019 nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,13% so với quý trước. Giá bình quân một số loại vải, giá một số mặt hàng quần áo may sẵn, mũ nón, giầy dép tăng hơn so với quý trước do chi phí nhân công, chi phí sản xuất tăng lên, giá dịch vụ may mặc tăng là nguyên nhân tác động làm tăng chỉ số giá nhóm này.

- Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng

Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tháng 3 năm 2019 tăng 0,49% so với tháng trước do chỉ số giá nhóm nước sinh hoạt tăng 2,66%; chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 0,75%; chỉ số giá nhóm gas và các loại chất đốt tăng 3,65% so với tháng trước (trong đó gas tăng 5,13%, dầu hỏa tăng 4,62%). Nguyên nhân do Miền Nam bước vào mùa khô, thời tiết khô mưa, nắng nóng liên tục kéo dài làm tăng nhu cầu sử dụng điện, nước, thêm vào đó giá nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố được điều chỉnh tăng lên theo Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND ngày 29/02/2019 của Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ.

Giá dầu hỏa hiện là 14.880 đồng/lít, tăng thêm 700 đồng/lít so với đầu tháng (giá dầu được điều chỉnh tăng từ ngày 02/3/2019). Giá gas tăng 17.000 đồng/bình 12kg từ 01/3/2019, giá gas tăng là do giá gas thế giới bình quân tháng 3/2019 tăng lên mức 505 USD/tấn, tăng 50 USD/tấn so với tháng 02/2019 và chi phí sản xuất, đầu tư tăng thêm đã tác động làm chỉ số giá nhóm gas và các loại chất đốt trong tháng tăng.

Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng quý I năm 2019 giảm 0,13% so với quý trước, do tác động của chỉ số giá nhóm vật liệu xây dựng giảm 1,15% so với quý trước, chỉ số giá nhóm gas và các loại chất đốt giảm 3,37% so với quý IV năm 2018.

- Thiết bị và đồ dùng gia đình

Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng tháng 3 năm 2019 tăng 0,23% so với tháng trước, do các mặt hàng đồ dùng gia đình tăng giá chi phí sản xuất nhân công, nguyên liệu, điện nước tăng chủ yếu là các mặt hàng giường tủ, bàn ghế, đồ dùng kim loại, các mặt hàng hóa mỹ phẩm như xà bông, sữa tắm, dầu gội...

Chỉ số giá quý I năm 2019 tăng 1,06% so với quý trước. Trong quý có nhiều mặt hàng, thiết bị, đồ dùng gia đình tăng giá do nhu cầu mua sắm của người dân tăng mạnh trong dịp năm mới, thêm vào đó nhiều mặt hàng điều chỉnh tăng giá trong quý I năm 2019 do chi phí sản xuất, chi phí nhân công tăng (chi phí nguyên vật liệu sản xuất tăng, lương cơ bản vùng tăng).

- Thuốc và dịch vụ y tế

Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tháng 3 năm 2019 tăng 0,04% so với tháng trước do tác động tăng giá của nhóm thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 1,31%.

Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế quý I năm 2019 tăng 3,21% do giá thuốc tăng nhẹ và tác động của việc điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh theo Thông tư 39/2018/TT-BYT ngày 30/11/2018 của Bộ Y tế áp dụng từ 15/12/2018, làm chỉ số giá nhóm dịch vụ khám sức khỏe tăng 4,06% so với quý IV/2018.

- Giao thông

Chỉ số giá nhóm giao thông tháng 3 năm 2019 tăng 2,39% so với tháng trước. Nguyên nhân do tác động của chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 4,99% so với tháng trước. Giá xăng, dầu được điều tăng từ ngày 02/3 đã đưa giá bán lẻ các mặt hàng xăng, dầu tăng từ 700-960 đồng/lít so với giá cuối tháng 2/2019. Hiện giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu như sau: giá xăng A95 là 18.540 đồng/lít tăng 940 đồng/lít, giá xăng E5 là 17.210 đồng/lít tăng 940 đồng/lít, giá dầu diezen là 15.860 đồng/lít tăng 960 đồng/lít, giá dầu hỏa là 14.880 đồng/lít tăng 700 đồng/lít (giá tham chiếu vùng 1 của Petrolimex). Tuy nhiên trong tháng chỉ số giá nhóm dịch vụ giao thông công cộng giảm 18,74% so với tháng trước (giá vé ô tô khách, vé tàu hỏa giảm), vì trong tháng 2/2019 nhu cầu đi lại tăng đột biến đã tác động làm tăng giá vé tàu, xe di chuyển trong dịp Tết Nguyên đán, sang tháng 3/2019 giá vé vận tải hành khách đã giảm trở lại giá của các ngày bình thường.

Chỉ số giá quý I năm 2019 của nhóm giao thông giảm 7,07% so quý trước. Nguyên nhân chủ yếu là do giá bình quân các mặt hàng xăng, dầu trong quý I/2019 thấp hơn giá bình quân xăng, dầu quý IV/2018, do ảnh hưởng bởi đợt giảm giá trong tháng 12/2018 và giảm giá trong tháng 01/2019.

- Bưu chính viễn thông

Chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông trong tháng ổn định so với tháng trước.  Chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông quý I năm 2019 giảm 0,12% so với quý trước do trong quý có nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá một số sản phẩm điện thoại, nhất là các sản phẩm điện thoại mẫu cũ để tăng lượng tiêu thụ trong dịp đầu năm mới.

- Giáo dục

Chỉ số giá nhóm giáo dục trong tháng giảm 0,04% so với tháng trước do tác động của chỉ số giá nhóm văn phòng phẩm giảm 0,28%. Chỉ số giá nhóm giáo dục quý I/2019 tăng 0,05% so với quý trước. Nguyên nhân là do giá một số mặt hàng văn phòng phẩm điều chỉnh tăng nhân dịp đầu năm mới như các mặt hàng tập, giấy viết, giấy in, viết... tăng do chi phí sản xuất tăng (lương cơ bản vùng tăng, giá nguyên liệu sản xuất tăng...)

- Văn hóa, giải trí và du lịch

Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch trong tháng giảm 0,08% so với tháng trước. Do tác động giảm giá của nhóm mặt hàng hoa tươi, cây cảnh giảm 1,15%, chỉ số giá nhóm du lịch giảm 0,10% vì nhu cầu sử dụng hoa tươi, cây cảnh giảm sau Tết, giá các tour du lịch trong và ngoài nước cũng giảm so với giá các tour du lịch trong tháng Tết.

Chỉ số giá quý I năm 2019 của nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,22% so với quý trước do tác động giảm giá các mặt hàng thiết bị văn hóa giảm 2,49% so với quý trước, dịch vụ du lịch ngoài nước giảm 0,44% so với quý trước do tác động của các chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng trong các tháng đầu năm mới.

- Hàng hóa và dịch vụ khác

Chỉ số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,62% so với tháng trước, do tác động tăng giá của nhóm đồ dùng cá nhân như các sản phẩm chăm sóc cơ thể, đồ trang sức vàng.., các dịch vụ phục vụ cá nhân tăng như gội đầu, cắt, uốn tóc do nhu cầu tăng dịp đầu năm, các dịch vụ phục vụ cho việc hiếu, hỉ cũng tăng do chi phí sản xuất, nhân công tăng, nhu cầu mùa cưới tăng. Đây cũng là nguyên nhân làm chỉ số giá quý I năm 2019 của nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,59% so với quý trước.

- Chỉ số giá vàng

Chỉ số giá vàng giảm 0,54% so với tháng trước do giá vàng thế giới giảm trước những tín hiệu tích cực về tình hình kinh tế, chính trị thế giới nhất là tình hình giữa Mỹ và Trung Quốc, Mỹ và Triều Tiên. Giá vàng ngày 21/3/2019 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 3.700.000đ/chỉ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,04% so với tháng trước. Nguyên nhân là do đồng Đô la Mỹ tăng giá trước những tín hiệu của Cục dự trữ liên bang Mỹ và tình hình kinh tế Mỹ trong thời gian qua. Giá đô la Mỹ ngày 21/3/2019 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 23.255 đồng/USD.

3. Đầu tư, xây dựng

a. Tình hình thực hiện vốn đầu tư

Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Thành phố Cần Thơ quý I năm 2019 nhìn chung thuận lợi. Giá cả vật liệu ít biến động là điều kiện tốt cho việc đấu thầu, hợp đồng thi công và triển khai thực hiện các công trình xây dựng.

Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý I năm 20194.618,47 tỷ đồng. Trong đó vốn nhà nước trung ương quản lý là 14,91 tỷ đồng, Vốn nhà nước do địa phương quản lý thực hiện được 703,07 tỷ đồng, Nguồn vốn ngoài nhà nước thực hiện là 3.367,33 tỷ đồng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được 533,17 tỷ đồng.

+ Vốn nhà nước Trung ương quản lý chủ yếu các công trình của các Bộ ngành, Tập đoàn, Tổng công ty.

+ Vốn ngoài nhà nước chủ yếu là doanh nghiệp và hộ gia đình đầu tư, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp và hộ gia đình đang tập trung mọi nguồn lực về vốn, cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc cho sản xuất nông nghiệp, cụ thể như đầu tư về máy móc thiết bị, thuê mướn đất nông nghiệp để canh tác cho mùa vụ mới.

+ Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Quý I năm 2019, cấp giấy chứng nhận đầu tư 02 dự án (trong đó có 01 dự án trong khu công nghiệp) với tổng vốn đăng ký 33,97 triệu USD; tính đến tháng 3/2019, thành phố có 84 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 727,32 triệu USD, vốn thực hiện ước đạt 470,6 triệu USD (trong đó vốn thực hiện 3 tháng năm 2019 là 7 triệu USD), chiếm 64,7% tổng vốn đăng ký. Một số công trình dự án có vốn FDI đã đi vào hoạt động, cụ thể nhà máy xử lý rác thải được thực hiện tại Huyện Thới Lai, Thành phố Cần Thơ với tổng vốn đầu tư hơn một nghìn tỷ đồng, đã bắt đầu hoạt động vào tháng 01/2019.

* Tình hình thực hiện các công trình chủ yếu của thành phố

Dự án Kè sông Cần Thơ - Ứng phó biến đổi khí hậu. Dự án có tổng mức đầu tư 810,74 tỷ đồng, dự án do Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng thành phố làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 được giao 150 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 02 năm 2019 thực hiện được 94,45 tỷ đồng đạt 11,65% tổng mức đầu tư toàn dự án, dự tính tháng 3 năm 2019 thực hiện được 15 tỷ đồng.

Dự án phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị, Dự án có tổng mức đầu tư 7.339,33 tỷ đồng, được thực hiện bằng nguồn vốn ODA, do Ban quản lý ODA thành phố Cần Thơ làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 được giao 459,9 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 02/2019, thực hiện được 2.354,98 tỷ đồng, đạt 32,09% tổng mức đầu tư toàn dự án, dự tính tháng 03 năm 2019 thực hiện được 12,9 tỷ đồng.

Dự án Kè chống sạt lở sông Ô Môn, Dự án có tổng mức đầu tư 416,74 tỷ đồng do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 được giao là 20 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 02 năm 2019 là 368,9 tỷ đồng đạt 88,5% tổng mức đầu tư toàn dự án, dự tính tháng 3 năm 2019 thực hiện được 2,68 tỷ đồng.

Dự án Trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm, dự án có tổng mức đầu tư là 106,45 tỷ đồng do Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng 2 thành phố (Ban 2) làm chủ đầu tư. Lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 02/2019 thực hiện được 72,71 tỷ đồng đạt 68,34%. Kế hoạch vốn năm 2019 được giao là 5 tỷ đồng. Từ đầu tháng 3 năm 2019, trường đã di dời và tổ chức các lớp học cho học sinh tại trường mới.

Dự án đường Nguyễn Văn Cừ nối dài (đoạn Mỹ Khánh – Phong Điền), dự án có tổng mức đầu tư là 546,47 tỷ đồng do Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng thành phố làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 được giao 13 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 02 năm 2019 thực hiện được 395,52 tỷ đồng đạt 72,38% tổng mức đầu tư toàn dự án. Dự án dự kiến hoàn thành trong quý IV năm 2019.

Để thực hiện tốt công tác đầu tư xây dựng cơ bản năm 2019 kiến nghị: Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các chủ đầu tư, nhà thầu tranh thủ mùa khô triển khai thực hiện quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình chuyển tiếp từ năm 2018. Hoàn thành sớm các thủ tục ban đầu, các công trình mới, đã được giao kế hoạch vốn năm 2019. Thanh quyết toán kịp thời các công trình có khối lượng hoàn thành để các nhà thầu có vốn hoạt động. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thầu và chủ đầu tư thực hiên nhanh chóng các thủ tục hành chính.

b. Kết quả hoạt động xây dựng

Tình hình thực hiện giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I năm 2019 tương đối thuận lợi, bên cạnh sự ủng hộ của thời tiết thì giá cả vật liệu xây dựng ổn định cũng là điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng giá trị sản xuất ngành xây dựng.

Ước thực hiện giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn giá hiện hành quý I năm 2019 thực hiện được 2.790,61 tỷ đồng tăng 12,73% so với cùng kỳ, trong đó khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 1.463,23 tỷ đồng tăng 155,52% so với cùng kỳ, khu vực loại hình khác thực hiện được 1.321,98 tỷ đồng đạt 69,58% so với cùng kỳ.

Thực hiện giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn giá so sánh quý I năm 2019 thực hiện được 2.074,96 tỷ đồng tăng 8,0% so với cùng kỳ, trong đó Công trình nhà ở thực hiện được 1.089,79 tỷ đồng đạt 74,55% so với cùng kỳ, Công trình nhà không để ở thực hiện được 529,14 tỷ đồng tăng 207,35% so với cùng kỳ, Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 354,68 tỷ đồng tăng 40,37% so với cùng kỳ, Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 101,35 tỷ đồng tăng 193,74% so với cùng kỳ.

Tình hình thực hiện giá trị sản  xuất ngành xây dựng quý I năm 2019 có tăng trưởng so với cùng kỳ, song các đơn vị xây lắp vẫn còn nhiều khó khăn do quý I năm 2019 trùng vào dịp Tết Nguyên đán, các công trình nghỉ Tết dài, ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình xây dựng. Hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố chủ yếu tập trung ở các công trình thuộc vốn ngân sách nhà nước, năng lực tài chính của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn còn hạn chế, nên khó tiếp cận được các công trình xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách.

Để tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp xây dựng làm tốt trong năm 2019 kiến nghị: Các đơn vị chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành các thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành để các doanh nghiệp xây lắp có vốn hoạt động giải quyết khó khăn về vốn hiện nay.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông Nghiệp

- Trồng trọt:

+ Cây lúa: TP Cần Thơ đã xuống giống ước được 81.283 ha, so kế hoạch đạt 98,52% (kế hoạch 80.540 ha), so vụ Đông xuân năm 2018 giảm 1,48%, bằng 1.218 ha. Nguyên nhân diện tích giảm: Do hầu hết quận, huyện nông dân lên vườn trồng cây lâu năm, cây hàng năm khác trên nền đất gò khó giữ nước hoặc diện tích đất trồng lúa không hiệu quả hay bị chuột cắn phá và một số diện tích chuyển đổi sang mục đích xây dựng nhà ở, công trình công cộng... Cụ thể ở huyện Cờ Đỏ giảm 400 ha; huyện Phong Điền giảm 191 ha, quận Bình Thủy giảm hơn 86 ha; quận Cái Răng giảm 115 ha; huyện Thới Lai giảm 103 ha; quận Ô môn giảm134 ha;… Hiện nay diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP: Lúa HTX Quyết Thắng 84 ha; HTX Hiếu Bình 26,7 ha; Đồng Vạn 63 ha; Ngành Nông nghiệp tiếp tục duy trì 95 cánh đồng lớn, với tổng diện tích khoảng 25.622 ha, tăng 2.410 ha so với cùng kỳ. Thành phố chú trọng đẩy mạnh phát triển hệ thống sản xuất giống lúa 3 cấp; Trên địa bàn thành phố hiện có 124 cơ sở, hộ sản xuất và cung ứng lúa giống với năng lực cung ứng 52.700 tấn/năm.

Trong cơ cấu giống lúa đã được nông dân gieo trồng trong vụ lúa Đông xuân 2019, thì Giống Jasmin 85: chiếm tỷ lệ cao nhất là 37% so với diện tích gieo trồng (Vụ ĐX năm 2018 giống Jasmin 85 chiếm 60% diện tích gieo trồng), tập trung chủ yếu tại các quận, huyện Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ…; Giống IR 50404 chiếm tỷ lệ 15% diện tích gieo trồng; Giống OM 5451 chiếm 7%; Giống OM 4218 chiếm 1% diện tích gieo trồng; Giống thơm Đài Loan 8: 21%; Giống RVT chiếm 9%; Ngoài ra còn có các giống khác chiếm khoảng 10%.

Hiện nay, lúa Đông Xuân chủ yếu giai đoạn chín, nông dân đang tích cực thu hoạch. Tính đến ngày 13/3/2019, toàn Thành phố đã thu hoạch ước đạt 79.955 ha, đạt 98% so với diện tích gieo trồng, nhanh hơn 23.330 ha so với cùng kỳ; Dự kiến cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 2019 lúa Đông xuân trên địa bàn thành phố thu hoạch dứt điểm.

Năng suất lúa Đông xuân năm 2019 ước đạt 68,98 tạ/ha, so vụ lúa Đông xuân 2018 giảm 3,69%; bằng 2,64 tạ/ha. Sản lượng ước 560.717 tấn; So với vụ ĐX 2018 giảm 5,11%,  bằng 30.200 tấn.

Nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng giảm:

Do thời tiết không thuận lợi, khô hạn, nhiệt độ cao, rầy nâu phát triển (cháy rầy) vào giai đoạn lúa trổ, đến chín làm lúa bị lép nhiều, hạt ít và nhỏ,… làm ảnh hưởng đến năng suất cây lúa như ở huyện Vĩnh Thạnh và quận Thốt Nốt (Tổng diện tích nhiễm dịch hại trên các loại cây trồng 10.996 ha; Dịch bệnh đã được kiểm soát, xử lý bằng các giải pháp kỹ thuật kịp thời nên đã khống chế sự bùng phát trên diện rộng).

Bên cạnh đó do thị trường xuất khẩu không thuận lợi, thương lái chậm thu mua, lúa chín bị neo tại ruộng dài ngày; Nên lúa khô và rơi rụng nhiều làm ảnh hưởng tới năng suất.

Ngoài ra còn có tác nhân đối tượng gây bệnh khác như chuột cắn phá lúa giai đoạn làm đòng trổ bông, làm ảnh hưởng đến năng suất ở quận Bình Thủy và huyện Phong Điền.

Sản lượng giảm do năng suất và diện tích giảm.

Đến nay, toàn thành phố có 789 máy gặt đập liên hợp (GĐLH) và 1.300 sấy, đáp ứng cắt gặt trên 95% diện tích lúa Đông xuân 2019. Nhìn chung, nông dân rất thuận lợi vừa rút ngắn được thời gian thu hoạch, vừa giảm được chi phí và tổn thất trong quá trình thu hoạch. Đặc biệt, do lượng máy GĐLH tham gia thu hoạch lúa rất nhiều và có sự cạnh tranh giảm giá, nhiều nông dân thuê GĐLH thu hoạch lúa chỉ với giá 280.000 đồng/công và lúa sau khi thu hoạch vô bao được chủ máy GĐLH chất lên máy kéo vô tận bờ ruộng, đã giúp nông dân giảm được chi phí.

Hiện nay, lúa Đông xuân 2019 đang thu hoạch rộ đa số nông dân bán lúa tươi. Hiện tại giá lúa tăng 300-500 đồng/kg so với tháng trước và giá lúa giảm so với cùng kỳ năm trước từ 350-550 đồng/kg; Cụ thể như sau: giá lúa Jasmine 85: 5.000-5.200 đồng/kg, giá các giống lúa OM: 5.000-5.100 đồng/kg, giá lúa IR 50404: 4.500-4.600 đồng/kg. Nguyên nhân: Do thị trường xuất khẩu khó khăn, nên thương lái chưa mạnh dạn thu mua nên giá lúa có giảm so với cùng kỳ.

Trên những chân ruộng đã thu hoạch lúa Đông xuân, ngành Nông nghiệp vận động nông dân sau khi thu hoạch lúa Đông xuân sớm chuyển đổi trồng cây màu trên nền đất lúa; Đối với những địa phương không xuống giống được vụ màu, nên cày ải, phơi đất để tiêu diệt mầm bệnh trên đồng ruộng và giảm nguy cơ bị ngộ độc hữu cơ, đảm bảo thời gian cách ly giữa vụ Đông xuân và Hè thu ít nhất 3 tuần; chỉ đạo xuống giống tập trung, đồng loạt theo lịch thời vụ trên từng khu vực, từng cánh đồng, không xuống giống kéo dài, không để trên cùng một cánh đồng có nhiều trà lúa đan xen. Tính đến ngày 13/3/2019 toàn thành phố đã xuống giống lúa Hè thu sớm ước được 49.467 ha đạt 65% so với kế hoạch (KH: 75.800 ha), nhanh hơn 36.111 ha so với cùng kỳ.

+ Cây hằng năm khác: Tính đến hết tháng 3/2019, diện tích gieo trồng cây hằng năm khác vụ Đông xuân ước đạt 6.644 ha, so cùng kỳ năm 2018 giảm 70 ha. Cụ thể từng nhóm cây như sau:

Nhóm cây ngô và cây lương thực có hạt khác: Diện tích gieo trồng ước đạt 276 ha, so cùng kỳ giảm 78 ha. Nguyên nhân do chuyển đổi mục đích cây trồng.

Nhóm cây lấy củ có chất bột: Diện tích gieo trồng ước đạt 19 ha so cùng kỳ năm 2018 giảm 08 ha, chủ yếu trên diện tích cây khoai lang.

Nhóm cây có hạt chứa dầu: Diện tích gieo trồng ước đạt 451 ha, so cùng kỳ tăng 203 ha. Tập trung chủ yếu ở cây mè diện tích ước 424 ha, tăng 94,54%, bằng 206 ha. Nguyên nhân diện tích cây Mè năm nay tăng là do vụ lúa Đông xuân năm nay thời tiết không thuận lợi và có rất nhiều diện tích lúa bị cháy rầy, giá lúa xuống rất thấp nên bà con chuyển sang trồng cây mè.

Nhóm cây rau, đậu các loại và hoa: Diện tích gieo trồng ước 5.692 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 180 ở một số nhóm cây, rau các loại giảm 119 ha; (Trong đó: dưa lấy quả giảm 39 ha; rau họ đậu giảm 16; rau lấy quả giảm 114 ha). Nguyên nhân diện tích giảm là: Do giá bán sản phẩm một số loại cây không ổn định có xu hướng giảm, mặt khác do quá trình đô thị hoá, một số diện tích đất nông nghiệp chuyển qua cây lâu năm và từ cây lâu năm chuyển qua đất xây dựng nên ảnh hưởng nhiều tới diện tích cây nông nghiệp ngắn ngày.

Nhóm cây hoa các loại: Tăng 9 ha là do bà con trồng một số loại hoa như cúc, vạn thọ để bán phục vụ trong dịp Tết Nguyên đán 2019. Nguyên nhân do những năm gần đây nhu cầu sử dụng hoa để trang trí trong dịp Tết tăng cao, lợi nhuận đem lại từ trồng hoa ổn định. Bên cạnh đó, đầu ra được nhiều cơ sở bao tiêu, người dân yên tâm sản xuất nên lượng sản xuất hoa tăng hơn so với năm trước.

Đến ngày 13/3/2019, toàn TP ước thu hoạch ước khoảng 4.176 ha cây hằng năm khác nhanh hơn 255 ha so với cùng kỳ; Năng suất không biến động nhiều so vụ Đông xuân 2018.

+ Cây lâu năm: Diện tích cây ăn trái là 18.291, chiếm 90,87% trong tổng diện tích cây lâu năm, tăng 4,1% so cùng kỳ năm 2018. Ngành Nông nghiệp tiếp tục vận động nông dân khôi phục vườn cây ăn trái tập trung, chuyên canh; Với định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện nay đã xây dựng được 12 vườn cây ăn trái kết hợp phát triển du lịch sinh thái, lợi nhuận cao gấp 1,5-2 lần so với trồng chuyên cây ăn trái và triển khai kế hoạch xây dựng vùng sản xuất vú sữa, xoài và nhãn theo tiêu chuẩn VietGAP, ngành đã  hỗ trợ kỹ thuật, bao tiêu trái vú sữa (6,3 ha) và bao tiêu trái xoài với Hợp tác xã xoài Lộc Hưng, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ. Hiện nay toàn thành phố có 58 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn trái với năng lực cung ứng 650.000 cây/năm.

Trong quý I năm 2019, ảnh hưởng dịch bệnh cây ăn trái khoảng 708 ha; Trong đó diện tích nhiễm bệnh chổi rồng trên nhãn 572 ha (diện tích nhiễm nặng 54 ha (tỷ lệ bệnh>40%), diện tích nhiễm trung bình 202 ha (tỷ lệ bệnh 20-40%), diện tích nhiễm nhẹ 316 ha (10-20%); Tuy nhiên, dịch bệnh đã được kiểm soát, xử lý bằng các giải pháp kỹ thuật kịp thời nên đã khống chế sự bùng phát trên diện rộng.

- Chăn nuôi:

Trong quý I năm 2019, trên địa bàn thành phố không xảy ra dịch bệnh tai xanh ở heo và dịch cúm gia cầm. Tuy nhiên, xảy ra 01 ổ dịch bệnh lở mồm long móng trên heo (ngày 18/02/2019) tại xã Thạnh Phú, huyện Cờ Đỏ; ổ bệnh đã được kiểm soát và khống chế kịp thời, đã qua 21 ngày không phát sinh thêm heo bệnh. Trước tình hình bệnh Dịch tả heo Châu Phi đang diễn biến phức tạp và lây lan nhanh, ngành đã tập trung triển khai chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm và các biện pháp ứng phó khẩn cấp với bệnh Dịch tả heo Châu Phi trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Đặc biệt trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2019 nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, nguồn cung ứng thực phẩm trong dịp lễ, Tết.

Toàn thành phố có 13 cơ sở chăn nuôi sản xuất con giống. Trong đó có 08 cơ sở chăn nuôi heo sản xuất con giống với khả năng cung cấp gần 5.000 con giống/năm và 05 cơ sở chăn nuôi vịt sản xuất con giống với khả năng cung ứng khoảng 700.000-750.000 con giống/năm; Cơ sở nuôi giữ heo đực giống hiện có 29 cơ sở với tổng đàn 127 con. Hàng năm sản xuất và tiêu thụ khoảng 110.000-115.000 liều tinh.

Giá heo hơi hiện nay dao động ở mức từ 50.000-52.000 đ/kg, so với tháng trước ổn định, nhưng so với cùng kỳ năm 2018 tăng khoảng tăng 20.000-22.000đ/kg; Nguyên nhân: do nhu cầu tiêu thụ thịt của người tiêu dùng vào dịp Tết Nguyên đán tăng. Giá vịt ta hơi ở mức từ 40.000-45.000 đồng/kg, vịt xiêm 60.000-65.000 đồng/kg; Gà thả vườn tại thời điểm cận tết dao động khoảng 90.000-110.000 đồng/kg. Trong khi chi phí thức ăn, tấm cám ở mức khá cao (giá thức ăn cũng dao động từ 20.000-21.000đ/kg), giá đầu ra của gia cầm hiện tại vẫn đảm bảo có lợi cho người nuôi, còn gia súc nhiều hộ qua hạch toán thì tỷ lệ lợi nhuận trong chăn nuôi vẫn chưa đảm bảo có lợi cho người chăn nuôi. Nhìn chung sau Tết Nguyên đán, giá các loại gia súc, gia cầm không có biến động nhiều.

Hiện nay, chăn nuôi còn nhỏ lẻ, phân tán, mô hình chăn nuôi tập trung theo hướng an toàn sinh học chưa nhiều.

b. Lâm nghiệp

Với vị trí địa lý và đặc điểm tình hình kinh tế của Cần Thơ hiện nay, diện tích trồng cây lâm nghiệp không còn, bà con nông dân chỉ trồng cây phân tán ở những vùng đất nhỏ lẻ ven các tuyến lộ giao thông nông thôn. Ngành Nông nghiệp tiếp tục tuyên truyền vận động nhân dân ở các quận, huyện chăm sóc các cây đã trồng trong những năm trước, vận động xã hội hóa trồng cây nhân dân năm 2019, Triển khai Kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 13 tháng 2 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2019,... vừa có hiệu quả kinh tế vừa tạo cảnh quan, bóng mát.

c. Thuỷ sản

Trong quý I năm 2019, diện tích nuôi thuỷ sản đã thu hoạch, được tiến hành cải tạo để thả nuôi cho vụ mới; Diện tích thả nuôi cá ước đạt 1.934 ha, so với cùng kỳ năm 2018 tăng 6,93%. Trong đó, diện tích thả nuôi cá tra thâm canh, bán thâm canh ước đạt 598 ha tăng 40,05%, bằng 171 ha; Diện tích thu hoạch cá khoảng 266 ha tăng 1% so cùng kỳ 2018 với sản lượng ước đạt 37.967 tấn; Trong đó, diện tích thu hoạch cá tra ước 150 ha (tăng 11% so cùng kỳ 2018) với sản lượng ước đạt 36.390 tấn. Hiện nay giá bán cá tra nguyên liệu dao động từ 25.000-26.000 đồng/kg (kích cỡ 700-800g/con) so với cùng kỳ năm 2018 giảm khoảng 4.000 đồng/kg, so với các tháng đầu năm giảm khoảng 4.000-4.500 đồng/kg; Giá thành bình quân 23.000-24.000 đồng/kg với giá này người nuôi lãi từ 2.000-3.000đ/kg. Nguyên nhân giá cá tra giảm so với các tháng đầu năm do ảnh hưởng của thị trường Trung Quốc. Tuy giá bán đang ở mức thấp nhưng người nuôi vẫn có lợi nhuận.

Hiện nay, có 199 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ. Trong quý I, sản xuất ước được 102 triệu con cá tra giống cung cấp nhu cầu nuôi của thành phố và các tỉnh lân cận. Với giá cá tra giống dao động từ 57.000-70.000 đồng/kg giảm 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ.

Hiện tại các công ty chế biến thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ có khuynh hướng xây dựng vùng nuôi tập trung để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến. Ngành Nông nghiệp đang chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa thủy sản. Đến nay, có 02 HTX nuôi cá tra với diện tích 27 ha; 43 hộ tham gia liên kết sản xuất với các nhà máy với diện tích 144 ha; 20 vùng nuôi của 07 doanh nghiệp tham gia nuôi cá tra với diện tích 169,7 ha và tổng diện tích nuôi thủy sản ATTP theo tiêu chuẩn đạt 228,5 ha, bao gồm: 214,75 ha VietGAP (trong đó có 17 ha BMP+ASC) và 13,5 ha BAP+ASC.

Trong quý I năm 2019, ngành Nông nghiệp TP Cần Thơ đã thực hiện chức năng quản lý nhà nước, khuyến cáo nông hộ tuân thủ lịch thời vụ, chuyển giao các tiến bộ của khoa học đến nông hộ, giúp người sản xuất nâng cao năng suất - chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho nông dân trong điều kiện có nhiều yếu tố khách quan không thuận lợi như giá tiêu thụ sản phẩm không ổn định... tác động đến sản xuất. Sự liên kết giữa “một số nhà” đã có bước cải thiện, sự tác động của thị trường trong và ngoài nước đã tạo ra những cơn sốt bất lợi cho người sản xuất cũng như cho doanh nghiệp chế biến lẫn tiêu dùng.

5. Sản xuất công nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tháng 3 tăng 8,82% so với tháng trước và tăng 8,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,5%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,82%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 3,73% so với cùng kỳ.

Ước thực hiện quý I năm 2019 chỉ số sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 6,31%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,51%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 3,25%. Trong đó, có một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá như: Phi lê đông lạnh tăng 5,14%; tôm đông lạnh tăng 25,37%; thức ăn cho gia súc tăng 13,75%; thức ăn cho thủy sản tăng 16,01%; bia lon tăng 11,66%; thuốc lá tăng 1,26%; quần áo tăng 35,94%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 1,65%; dược phẩm tăng 34,73%; bao và túi bằng plastic khác tăng 17,46%; xi măng tăng 1,43%; nước sinh hoạt tăng 3,22%. Nguyên nhân tăng do doanh nghiệp đã tạo lập được các mối liên kết giữa các doanh nghiệp nên đã chủ động đổi mới công nghệ, mạnh dạn đầu tư, tìm kiếm được nhiều đối tác kinh doanh mới nên đã đẩy mạnh sản xuất góp phần duy trì tăng trưởng ổn định các ngành sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I năm 2019 tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: Sản xuất đồ uống tăng 6,7%; sản xuất thuốc lá tăng 5,6%; sản xuất trang phục tăng 17,78%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 1,65%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 4,33%; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 34,34%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 6,42%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,41%; sản xuất kim loại tăng 4,04%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 10,81%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 7,74%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 12,92%.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/3/2019 là 83,14% so với cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2019 tăng 0,1% so với tháng trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1%, doanh nghiệp Ngoài Nhà nước tăng 0,1% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,15%. Số lao động tại các doanh nghiệp tăng nhẹ, không có biến động nhiều.

Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp: Trong tháng, ước cấp mới đăng ký kinh doanh cho 73 doanh nghiệp các loại hình với tổng vốn đăng ký 1.037 tỷ đồng, trong quý I năm 2019, cấp mới đăng ký kinh doanh cho 327 doanh nghiệp các loại hình với tổng vốn đăng ký 3.215 tỷ đồng; đạt 19,24% KH về số doanh nghiệp và đạt 45,93% KH về số vốn đăng ký mới.

Để duy trì sự phát triển ổn định ngành Công nghiệp của Thành phố các ngành chức năng cần phải có nhiều giải pháp tích cực phù hợp như: Tập trung giải quyết vấn đề tồn kho, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh để có thể kết nối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Song song đó nên khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa.

Đồng thời, các doanh nghiệp cần xây dựng mục tiêu dài hạn, sắp xếp phân b vốn hợp lý, công tác triển khai đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần được đẩy mạnh; tăng cường việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất.

6. Thương mại, dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn TP Cần Thơ ước quý I năm 2019 tăng trưởng tốt. Tình hình bán buôn, bán lẻ của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể gặp nhiều thuận lợi, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán 2019.

Ước tháng 03/2019, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 11.900,06 tỷ đồng tăng 12,02% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 7.175,08 tỷ đồng tăng 11,86% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể đạt 3.420,85 tỷ đồng tăng 13,75% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước đạt 1.088,22 tỷ đồng tăng 8,45% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 83,22% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 3/2019 đạt 9.903,14 tỷ đồng tăng 12,21% so cùng kỳ. Khách sạn nhà hàng ước đạt 868,55 tỷ đồng tăng 13,52% so cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn Thành phố ước tính quý I năm 2019 đạt 35.708,43 tỷ đồng tăng 12,09% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân ước đạt 21.513,25 tỷ đồng tăng 11,73% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể ước đạt 10.253,89 tỷ đồng tăng 14,25% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước ước đạt 3.292,47 tỷ đồng tăng 8,5% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 83,20% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ quý I năm 2019, ước đạt 29.710,76 tỷ đồng tăng 12,41% so cùng kỳ; Khách sạn nhà hàng ước đạt 2.601,63 tỷ đồng tăng 13,48% so cùng kỳ.

b. Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông

Trong quý I năm 2019, phương tiện giao thông được bố trí đầy đủ, tình hình tại các bến xe, bến tàu diễn ra thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và vận chuyển hàng hóa tăng cao trong dịp lễ, Tết.

- Vận tải hàng hoá: Tháng 3/2019, ước vận chuyển 1.099,35 ngàn tấn hàng hoá tăng 1,56% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 192,84 triệu T.Km đạt 101,58% so cùng kỳ. Ước quý I năm 2019 vận chuyển 3.314,99 ngàn tấn hàng hóa tăng 1,54% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 582,76 triệu T.Km đạt 101,48% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 3/2019, ước vận chuyển đạt 455,23 ngàn tấn tăng 1,62% so cùng kỳ; luân chuyển 103,08 triệu T.Km đạt 101,72% so cùng kỳ. Đường sông ước vận chuyển đạt 618,69 ngàn tấn tăng 1,50% so cùng kỳ; luân chuyển 64,50 triệu T.Km đạt 101,38% so cùng kỳ. Đường biển ước vận chuyển đạt 25,43 ngàn tấn tăng 1,68% so cùng kỳ; luân chuyển 25,26 triệu T.Km đạt 101,54% so cùng kỳ.

- Vận tải hành khách: Tháng 3/2019, ước vận chuyển 2.988,79 ngàn lượt hành khách tăng 1,66% so cùng kỳ; luân chuyển 43,54 triệu lượt HK.Km đạt 101,55% so cùng kỳ. Ước quý I năm 2019 vận chuyển 9.004,98 ngàn lượt HK tăng 1,58% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 131,15 triệu HK.Km đạt 101,54% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 3/2019, ước vận chuyển 1.611,85 ngàn lượt HK tăng 1,61% so cùng kỳ; luân chuyển 41,49 triệu HK.Km đạt 101,56% so cùng kỳ. Đường sông ước vận chuyển 1.376,95 ngàn lượt HK tăng 1,72% so cùng kỳ; luân chuyển 2,04 triệu HK.Km đạt 101,34% so cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Tháng 3/2019 doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước thực hiện 302,46 tỷ đồng, tăng 7,58% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 70,26 tỷ đồng tăng 7,67%; vận tải hàng hóa thực hiện 166,33 tỷ đồng, tăng 7,45%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 65,87 tỷ đồng, tăng 7,31% so cùng kỳ.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước quý I năm 2019 thực hiện 917,73 tỷ đồng, tăng 7,47% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 212,80 tỷ đồng tăng 7,63%; vận tải hàng hóa thực hiện 505,01 tỷ đồng, tăng 7,42%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 199,92 tỷ đồng, tăng 7,42% so cùng kỳ.

- Lĩnh vực bưu chính, viễn thông: Thành phố có 211 điểm phục vụ bưu chính, tăng 2 điểm so với cuối năm 2018, đạt 100,9% so với kế hoạch năm 2019. Bán kính phục vụ là 1,46 km. Thuê bao truy nhập Internet là 630.000 thuê bao đạt 99,8% kế hoạch năm 2019, trong đó thuê bao băng rộng di động là 407.000 thuê bao và thuê bao băng rộng cố định (bao gồm xDXL, FTTH, Leased-line, CATV) là 223.000 thuê bao.

Trên địa bàn TPCT, hiện nay đã lắp đặt 25 điểm wifi với 299 đầu phát tạo điều kiện để quảng bá, công tác thông tin tuyên truyền các sự kiện trên môi trường mạng.

Hiện tại, các doanh nghiệp viễn thông di động lớn là VNPT, Viettel, Mobiphone đã triển khai cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản viễn thông. Cụ thể VNPT Pay đã triển khai trên địa bàn thành phố với số lượng người dùng khoảng 5 nghìn thuê bao, đa số thanh toán cước điện thoại và môt số dịch vụ nhỏ lẻ, ViettelPay cũng đã triển khai với số lượng người dùng khoảng 12 nghìn thuê bao, trong đó thuê bao sử dụng thường xuyên khoảng 6 nghìn thuê bao, ngoài thanh toán điện tử trên mạng thì Viettel còn liên kết với MB thanh toán qua thẻ tại điểm giao dịch và định hướng Viettel sẽ xây dựng hệ thống điểm tiếp nhận thanh toán tại những điểm giao dịch lớn và trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn. Mobiphone Pay đang bắt đầu triển khai dịch vụ trên địa bàn thành phố.

7. Các vấn đề xã hội

a. Tình hình đời sống dân cư

Đời sống dân cư thành phố Cần Thơ trong quý I năm 2019 được cải thiện do các chính sách ổn định giá cả, thị trường và hỗ trợ cho các đối tượng hộ chính sách, hộ nghèo của UBND thành phố Cần Thơ. Các trợ giúp khó khăn đột xuất từ nguồn ngân sách nhà nước và các hoạt động chăm lo Tết cho các đối tượng có sự góp sức của các doanh nghiệp tạo nên không khí ấm áp cho người dân đón Tết.

Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong quý I năm 2019 được cải thiện và phấn khởi hơn nhiều do chính sách thưởng Tết của các doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương đối với cán bộ công chức nhà nước. Hầu hết các doanh nghiệp đều thưởng lương tháng 13, tặng quà cho công nhân lao động.

b. Công tác an sinh xã hội

- Lao động việc làm: Trong tháng, toàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 3.471 người; lũy kế từ đầu năm đã giải quyết việc làm cho 15.421 người (có 42 lao động đi làm việc ở nước ngoài), đạt 30,69% kế hoạch năm, tăng 11,19% so với cùng kỳ năm 2018.

Công tác quản lý lao động người nước ngoài: Đã cấp giấy phép lao động cho 07 trường hợp; Miễn cấp giấy phép lao động cho 03 trường hợp.

Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố: Kết nối việc làm trong nước cho 256 lượt người, đào tạo nghề và kỹ năng cho 535 lượt người. Tổ chức tư vấn nghề nghiệp, việc làm và quan hệ lao động cho 5.393 lượt người, với các hoạt động chính như: Phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia dạy nghề cho người tham gia học nghề; Tổ chức họp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia dạy nghề cho người lao động học nghề theo chính sách bảo hiểm thất nghiệp năm 2019; tổ chức 01 buổi sinh hoạt chuyên đề cho thanh niên, lớp kỹ năng mềm và giáo dục tài chính cho công nhân nhà máy trong khuôn khổ dự án Kỹ năng thành công; Lớp Kỹ năng nghề nghiệp cho thanh niên (dự án SCI); Khai giảng lớp tiếng Hàn khóa 2/2019; Rà soát một số hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp đã hưởng trợ cấp thất nghiệp năm 2016, 2017 và hồ sơ thẩm định tại các Văn phòng.

- Công tác giáo dục nghề nghiệp: Trên địa bàn thành phố có 90 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (gồm 10 trường Cao đẳng, 14 trường Trung cấp, 22 Trung tâm dạy nghề và 44 cơ sở khác có dạy nghề). Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới và đào tạo cho 2.915 người, lũy kế từ đầu năm đã tuyển mới và đào tạo cho 4.996; đạt 10,41% kế hoạch năm, giảm 42,91% so với cùng kỳ năm 2018.

- Công tác bảo trợ xã hội - Trẻ em và bình đẳng giới: Trợ cấp thường xuyên cho 40.137 đối tượng bảo trợ xã hội ở ngoài cộng đồng với tổng kinh phí trên 18 tỷ đồng. Tổ chức Họp mặt Kỷ niệm Ngày Công tác xã hội 25/3 (tổ chức ngày 25/3/2019). Trình UBND thành phố ban hành Kế hoạch thực hiện Tháng hành động vì Người cao tuổi. Lập danh sách các cụ tròn 100 tuổi để tham mưu UBND thành phố đề nghị Chủ tịch nước tặng Thiếp chúc thọ theo quy định. Tổ chức đoàn tham dự Hội thi tiếng hát Người khuyết tật lần thứ 2 năm 2019 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Trung tâm Bảo trợ xã hội đang quản lý 577 đối tượng. Hướng dẫn, tư vấn cho thân nhân, gia đình có nhu cầu xin bảo lãnh về gia đình tiếp tục quản lý và điều trị 44 lượt người. Kịp thời can thiệp 24 vụ đối tượng đánh nhau, ngăn chặn 10 đối tượng lên cơn kích động. Đảm bảo việc cung cấp lương thực, thực phẩm và tổ chức nấu ăn hàng ngày cho đối tượng đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Duy trì vệ sinh cá nhân, cho đối tượng tập thể dục, vui chơi giải trí hằng ngày. Tổ chức phục hồi chức năng cho đối tượng bằng hình thức lao động nhẹ với 524 lượt tham gia. Tổ chức vui chơi, giải trí với 1.158 lượt tham gia. Hướng dẫn tập vật lý trị liệu với các trang thiết bị phục hồi chức năng được trang bị có 625 lượt tham gia, lao động sản xuất luôn được duy trì. Khám, điều trị bệnh thông thường cho 827 lượt. Phối hợp Trung tâm Y tế dự phòng quận Ô Môn tầm soát lao 06 đối tượng. Hiện đang quản lý điều trị theo phác đồ lao 08 đối tượng, quản lý 04 đối tượng HIV/AIDS, điều trị ARV cho 02 đối tượng.

Trung tâm Công tác xã hội đang nuôi dưỡng trực tiếp 88 đối tượng (trong tháng tiếp nhận 02 trẻ bị bỏ rơi, 01 trẻ được nhận làm con nuôi. Tiếp đoàn làm việc của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, các Sở, Ngành đến kiểm tra hoạt động và hướng dẫn giải quyết những khó khăn của Trung tâm. Tiếp nhận các cuộc gọi đến tổng đài tư vấn miễn phí 18008065 kết nối trợ giúp cộng đồng. Phối hợp Trung tâm hỗ trợ thanh thiếu niên - Nhi đồng Cần Thơ tìm gia đình cho một đối tượng Trung tâm. Làm việc với Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ninh kiều, Trường Nguyễn Du tổ chức triển khai lớp phổ cập cho đối tượng Trung tâm. Thực hiện công tác tiếp cận, trợ giúp bệnh nhân trong các bệnh viện vào thứ sáu hằng tuần. Kết nối Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố quay chương trình “Đồng cảm - sẻ chia” cho 01 bệnh nhân cư trú tại xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ. Thực hiện tốt công tác kiểm tra thực phẩm đầu vào, đảm bảo việc cung cấp thực phẩm tươi ngon hàng ngày phục vụ đối tượng. Trong tháng khám và điều trị tại chỗ cho 310 lượt đối tượng, duy trì tập vật lý trị liệu cho 18 đối tượng.

Thực hiện chính sách Người có công với cách mạng: Toàn thành phố hiện có 6.691 Người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi thường xuyên với tổng kinh phí hơn 08 tỷ đồng (trong đó: 49 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng và được các đơn vị nhận phụng dưỡng). Tiếp nhận, xét duyệt và giải quyết 61 hồ sơ chế độ chính sách.

Công tác xây dựng nhà tình nghĩa: Tiếp tục phối hợp các quận, huyện và Ngân hàng SHB chuyển 50% nguồn kinh phí để khởi công xây dựng 26 căn nhà tình nghĩa. Đã khởi công 10 căn nhà tình nghĩa từ nguồn kinh phí hỗ trợ của Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Cần Thơ. Kiểm tra, rà soát lại số liệu xây dựng nhà tình nghĩa theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg cùng Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ tại quận Ô Môn và Cái Răng.

          c. Giáo dục

Quý I năm 2019, ngành Giáo dục đã tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ trong năm học 2018 - 2019 và các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực phụ trách.

Kết quả Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông năm 2019: 01 giải Nhất, 03 giải Nhì, 05 giải Ba và 08 giải Khuyến khích.

Chuẩn bị các điều kiện triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông: Tổ chức Hội nghị “Tiếp tục triển khai việc xây dựng và chuẩn bị các điều kiện áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới”; rà soát trình độ chuyên môn, quản lý của đội ngũ nhà giáo để tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ đảm bảo đủ năng lực triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

Tổ chức Hội thi Giáo viên chủ nhiệm giỏi trung học phổ thông cấp thành phố; Hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp tiểu học năm 2019. Tổ chức Thi học sinh giỏi lý thuyết lớp 12 THPT; Thi nghề phổ thông khoá tháng 3/2019; Thi học sinh giỏi thí nghiệm thực hành cấp THCS, THPT; Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia.

Các cơ sở giáo dục tổ chức hoạt động kỷ niệm 15 năm thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương gắn với ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2019) và đón Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 với nhiều hình thức như tổ chức hội trại, trò chơi dân gian, tham gia hoạt động trải nghiệm tại các làng nghề truyền thống và khu di tích lịch sử... Tổ chức Hội thi Nét đẹp học đường; Giải bóng đá nam trung học phổ thông Giai điệu tuổi hồng thành phố Cần Thơ lần thứ V - 2019; Giải bóng đá nữ cấp trung học cơ sở thành phố Cần Thơ lần 3 - 2019; Ngày hội Giáo dục tiểu học.

Chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường phòng chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông; đón tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 đảm bảo “Tết đoàn kết, tiết kiệm, vui tươi, lành mạnh, an toàn”.

Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho học sinh.

d. Về Y tế

Ngành Y tế chủ động phòng chống dịch, kịp thời điều tra và xử lý cas bệnh, khống chế không để dịch bùng phát, không có dịch lớn xảy ra. Không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn.

Công tác chuyên môn đảm bảo, không có sai sót chuyên môn, kịp thời triển khai các quy định của Bộ Y tế ban hành cho các đơn vị. Công tác phối hợp của các Sở Ngành chặt chẽ và phát huy có hiệu quả, đặc biệt trong việc tổ chức các sự kiện lớn của thành phố, công tác thanh kiểm tra liên ngành trong lĩnh vực y tế và an toàn vệ sinh thực phẩm. Mạng lưới y tế ổn định và phát triển, y tế cơ sở từng bước được nâng cao chất lượng.

            Tình hình dịch bệnh ổn định, không có vụ dịch nguy hiểm xảy ra. Quý I năm 2019 một số bệnh như: Sốt xuất huyết 221 trường hợp mắc, tăng 155 trường hợp so cùng kỳ (66 trường hợp), không có tử vong. Tay chân miệng ghi nhận 171 trường hợp mắc, tăng 113 trường hợp so cùng kỳ (58 trường hợp), không có tử vong. Thủy đậu 13 trường hợp mắc, tăng 5 trường hợp so với cùng kỳ 2018.

Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Đến thời điểm báo cáo, lũy tích số nhiễm HIV phát hiện được 6.184 trường hợp; Trong đó, tử vong 2.448 trường hợp, số nhiễm HIV còn sống 3.736 trường hợp. Số bệnh nhân đang điều trị ARV là 2.896 trường hợp. Số bệnh nhân đang điều trị Methadone là 400 trường hợp.

Tiếp tục triển khai lấy mẫu làm xét nghiệm tải lượng virus cho bệnh nhân đang điều trị ARV tại các Phòng khám HIV năm 2019. Tổ chức sự kiện “Những bệnh nhân đầu tiên điều trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV từ nguồn bảo hiểm y tế” tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ. Tổng hợp thu thập thông tin đánh giá các hướng dẫn quốc gia mới về xét nghiệm HIV và xét nghiệm dựa vào cộng đồng.

Công tác khám chữa bệnh: Các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc thực hiện tốt quy chế chuyên môn, đảm bảo các quy trình kỹ thuật trong khám chữa bệnh đồng thời tăng cường công tác khám chữa bệnh và quản lý quỹ BHYT.

Tổ chức tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự và công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi và Lễ hội xuân 2019.

Phối hợp Cục Hậu Cần, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 thực hiện kế hoạch khám phúc tra sức khỏe, xét nghiệm nhóm máu, sàng lọc HIV, ma túy và tiêm phòng vắc xin AT cho chiến sĩ mới năm 2019.

Chỉ đạo các đơn vị huy động lực lượng tham dự mitting và tham gia hiến máu trong ngày mitting Hưởng ứng Ngày toàn dân hiến máu tình nguyện 7/4 và Tổng kết Lễ hội Xuân hồng năm 2019; các bệnh viện cử thí sinh dự thi Điều dưỡng trưởng giỏi tại TP Hồ Chí Minh.

Cấp mã cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với Bệnh viện đa khoa Quốc tế SIS Cần Thơ, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, TTYT huyện Cờ Đỏ và Phòng khám đa khoa Hoàng Minh.

Phối hợp Cục quản lý khám, chữa bệnh Bộ Y tế khảo sát việc triển khai chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc.

Chỉ đạo các đơn vị khẩn trương rà soát việc thực hiện khám sức khỏe cho người lái xe tại đơn vị và việc công bố cơ sở đủ điều kiện KSK lái xe theo quy định của Thông tư liên tịch số 24/2015/TTLT-BYT-BGTVT về quy định về tiêu chuẩn sức khỏe người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô và quy định về cơ sở y tế khám sức khỏe cho người lái xe.

Tham gia thực hiện sáng kiến xây dựng “Bệnh viện Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc” tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Quốc tế Phương Châu.

Phục vụ y tế giải Bóng đá TP.Cần Thơ Mừng xuân 2019; lễ phát động Ngày Quyền của Người tiêu dùng Việt Nam năm 2019.

e. Văn hóa, thể thao

Trong quý I năm 2019, thành phố đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao và du lịch sôi nổi, liên tục để chào mừng các ngày lễ, tết, kỷ niệm, sự kiện lớn của đất nước; phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, tạo không khí vui tươi phấn khởi trong nhân dân thành phố.

- Văn hóa: Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật (28 chương trình biểu diễn nghệ thuật) trong chuỗi hoạt động Chào năm mới, chào mừng kỷ niệm 15 năm thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và Mừng Đảng quang vinh - Mừng xuân Kỷ Hợi 2019 như: Chương trình nghệ thuật đón giao thừa Xuân Kỷ Hợi 2019, thu hút 7.000 lượt người xem tại sân khấu công viên Lưu Hữu Phước và hàng chục nghìn lượt người xem trực tiếp trên sóng truyền hình; Đường hoa Xuân Kỷ Hợi với Chủ đề “Mừng Đảng quang vinh - Mừng xuân Kỷ Hợi; mừng thành phố Cần Thơ 15 năm - một chặng đường phát triển (2004 - 2019)”, thu hút 410.000 lượt khách tham quan (Trung bình mỗi ngày có trên 45.555 lượt người tham quan); bắn pháo hoa nghệ thuật trong đêm giao thừa tại trung tâm thành phố và các quận, huyện, thu hút 98.700 lượt người xem... Tổ chức họp mặt nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn... ôn lại truyền thống những chặng đường đã qua, nhân kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển Sân khấu Cải lương (1918 - 2018); họp mặt các đơn vị hoạt động nghệ thuật ngoài công lập của thành phố Cần Thơ nhân dịp mừng Xuân Kỷ Hợi 2019.

Thực hiện 38 chương trình biểu diễn nghệ thuật định kỳ tại bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng và Sân chơi Tài tử Cầu đi bộ, phục vụ nhân dân và du khách tham quan thành phố Cần Thơ vào dịp cuối tuần, mỗi chương trình thu hút từ 300 - 500 lượt người xem.

Liên hoan, hội thi, hội diễn: Cấp thành phố tổ chức và phối hợp tổ chức 02 cuộc, đạt 40% kế hoạch năm: “Ca nhạc, ca cổ, tiểu phẩm xuân 2019” lần thứ X, tại công viên Bến Ninh Kiều, với 122 tiết mục tập thể và cá nhân tham gia dự thi, các thể loại ca nhạc, ca cổ, tiểu phẩm và nhóm nhảy; trao 88 giải thưởng (06 giải nhất, 20 giải nhì, 30 giải ba và 32 giải khuyến khích), thu hút 3.100 lượt người xem. Phối hợp Thành Đoàn tổ chức Liên hoan Tiếng hát Học sinh Sinh viên lần thứ XIII năm 2019.

Nhà hát Tây Đô tổ chức và phối hợp tổ chức biểu diễn 23 cuộc, đạt 23% kế hoạch năm; phục vụ 12.800 lượt người xem, đạt 25,6% kế hoạch năm.

Các đội tuyên truyền lưu động toàn thành phố thực hiện 14 kịch bản, đạt 45,2% kế hoạch năm; biểu diễn 116 buổi, đạt 27,6% kế hoạch năm; thu hút 65.000 lượt người xem, đạt 51,6% kế hoạch năm.

- Thể dục, thể thao:

+ Thể dục, thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ VI năm 2019, tại Công viên Lưu Hữu Phước, có 520 vận động viên, huấn luyện viên, 22 đoàn, 13 tỉnh, thành tham dự, thu hút 20.000 lượt người xem. Tổ chức Giải Xe đạp Thể thao thành phố Cần Thơ mở rộng năm 2019 “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Kỷ Hợi 2019”, tại Công viên Lưu Hữu Phước, có 252 vận động viên, huấn luyện viên của 9 quận, huyện và 05 tỉnh - thành ngoài thành phố tham gia, thu hút 5.000 lượt người xem. Tổ chức Giải Lân Sư Rồng thành phố Cần Thơ “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Kỷ Hợi 2019”, tại Khu tưởng niệm Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền, quận Thốt Nốt, có 250 vận động viên, huấn luyện viên của 10 đoàn, đến từ 7 quận, huyện tham gia, thu hút 1.000 lượt người xem. Tổ chức Giải Vô địch Bóng đá TP. Cần Thơ “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Kỷ Hợi 2019”, tại sân vận động quận Ô Môn và Thốt Nốt, có 180 vận động viên, của 09 quận, huyện tham dự, thu hút 5.000 lượt người xem. Tổ chức Giải Thể thao trò chơi dân gian thành phố Cần Thơ năm 2019 “Kỷ niệm Lễ giỗ lần thứ 147 của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa”, tại Khu tưởng niệm Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, có 19 đơn vị, với 290 vận động viên đến từ 08 Trung tâm VH-TT quận, huyện, Đoàn cơ sở SởVHTTDL, Ủy ban nhân dân 08 phường của quận Bình Thuỷ, Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ và Trường Trung cấp Đại Việt tham dự.

+ Thể thao thành tích cao: Tổ chức Giải Đua xe mô tô 125cc - 135cc - 150cc, ngày 08/02/2019, tại Sân vận động Cần Thơ, thu hút gần 20.000 lượt người xem; Giải vô địch các Câu lạc bộ Cầu mây toàn quốc năm 2019, với 200 huấn luyện viên và vận động viên của 20 đội đến từ 13 tỉnh/thành, tại Công viên Lưu Hữu Phước. Tham dự 17 giải thể thao (quốc gia: 14 giải, quốc tế: 03 giải), đạt 35 huy chương, đạt 9,21 % kế hoạch năm.

f. Tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổ

Tình hình tai nạn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông thành phố Cần Thơ tình hình tai nạn giao thông (từ ngày 16/02/2019 đến 15/3/2019) trên địa bàn thành phố đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 08 người, bị thương 03 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tăng 01 vụ. Quý I năm 2019 trên địa bàn thành phố đã xảy ra 25 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 28 người, bị thương 14 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ giảm 01 vụ, số người chết tăng 03 người, số người bị thương tăng 04 người.

Công tác phòng chống cháy, nổ: Trong tháng 3 năm 2019 đã xảy ra 07 vụ cháy, tăng 03 vụ so với tháng trước, thiệt hại 30 triệu đồng. Quý I năm 2019, trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã xảy ra 16 vụ cháy, ước thiệt hại 252 triệu đồng.

                                                                                                                                      CỤC THỐNG KÊ TP. CẦN THƠ


Các biểu số liệu:

01. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn

Xem

02. Chi ngân sách nhà nước địa phương

Xem

03. Sản xuất nông nghiệp đến ngày 13/3/2019

Xem

04. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Xem

05. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Xem

06. Số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

07. Vốn đăng ký và vốn bổ sung của dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

08. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội

Xem

09. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Xem

10. Vận tải hành khách và hàng hóa

Xem

Các tin khác
Tình hình KT-XH tháng 07 năm 2019 - 27/07/2019
Tình hình KT-XH tháng 06 năm 2019 - 26/06/2019
Tình hình KT-XH tháng 05 năm 2019 - 23/05/2019
Tình hình KT-XH tháng 04 năm 2019 - 25/04/2019
Tình hình KT-XH tháng 02 năm 2019 - 25/02/2019
Tình hình KT-XH tháng 01 năm 2019 - 25/01/2019
Tình hình KT-XH tháng 12 năm 2018 - 28/12/2018
Tình hình KT-XH tháng 11 năm 2018 - 28/11/2018
Tình hình KT-XH tháng 10 năm 2018 - 26/10/2018
Tình hình KT-XH tháng 9 năm 2018 - 27/09/2018
Thông báo
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 3/2019
Quyết định số 03/QĐ-CTK ngày 18/01/2019 của Cục trưởng Cục Thống kê thành phố Cần Thơ v/v phân công công tác của Lãnh đạo Cục Thống kê thành phố Cần Thơ
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 02/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2019
10 Luật có hiệu lực từ 01/01/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12-2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9/2018
Nghị định số 103/2018/NĐ-CP ngày 07/8/2018 của Chính phủ Quy định một số cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, ngân sách và phân cấp quản lý đối với thành phố Cần Thơ
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2018
Lịch nghỉ lễ, Tết năm 2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2018
Cán bộ, công chức cần biết từ 01/7/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 4/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 3/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 02/2018
Thông báo nghỉ Tết nguyên đán Mậu Tuất 2018
Thông báo số 89/TB-UBND ngày 27/12/2017 v/v Trợ cấp khó khăn Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2018
Chỉ thị số 14/CT-UBND ngày 11/12/2017 của UBND thành phố Cần Thơ v/v phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018
Thông báo nghỉ Tết dương lịch 2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12/2017
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2017
Thông báo số 657/TB-CTK ngày 03/11/2017 v/v Lịch làm việc đánh giá và phân loại công chức năm 2017 các quận/huyện
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2017
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9/2017
Nghị định số 85/2017/NĐ-CP ngày 19/7/2017 quy định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thống kê tập trung và thống kê bộ, cơ quan ngang bộ
Lịch tập huấn lớp 3 ở cấp quận, huyện (nghiệp vụ ghi phiếu điều tra cá thể cho ĐTV và Tổ trưởng)
Trang điều hành tác nghiệp Tổng điều tra kinh tế 2017
Tăng lương cho công chức, viên chức từ 01/7/2017
Thông báo: v/v nghỉ lễ 30/4 và 1/5/2017
Tra cứu danh mục ngành kinh tế quốc dân Việt Nam (VSIC 2007)
Thay đổi mã vùng điện thoại cố định
Thông báo số 881/TB-CTK ngày 30/12/2016: Thông báo Trang thông tin điện tử Cục Thống kê TP. Cần Thơ chính thức đưa vào hoạt động
Chỉ thị số 18/CT-UBND ngày 15/12/2016 của UBND thành phố Cần Thơ v/v phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017
Thi tuyển công chức 2016
Tin video
Đang online: 16263
Hôm nay: 10812
Hôm qua: 14048
Tuần này: 10812
Tuần trước: 96321
Tháng này: 151941
Tháng trước: 244474
Tất cả: 4023162
Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Điện thoại: (0710) 3734 641 Email: cantho@gso.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Lê Ngọc Bảy - Cục trưởng Cục Thống kê TP. Cần Thơ