Chào mừng quý khách đã đến với Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP.Cần Thơ - Địa chỉ: 8A Nguyễn Văn Cừ, Phường An Bình, Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Trang chủ
           Giới thiệuv
Tin tức sự kiệnv
Lĩnh vực chuyên mônv
Ấn phẩm thống kê
Văn bản pháp lý
Văn bản của thành phố
Văn bản của Cục
Văn bản của Ngành
Văn bản của Nhà nước
Tin tức & Sự kiện
Tình hình KT-XH tháng 12 năm 2021 - 27/12/2021

  Năm 2021 là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, năm diễn ra sự kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng là năm bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; để thực hiện tốt chủ đề năm 2021 của Thành phố: “Tăng cường xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh huy động nguồn lực đầu tư xây dựng kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ”. Trong bối cảnh có cả thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, đòi hỏi phải nỗ lực đổi mới trong chỉ đạo điều hành, hành động quyết liệt, hiệu quả hơn mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Năm 2021, nền kinh tế trong nước tiếp tục chuyển biến tích cực, tiếp nối những kết quả quan trọng, ấn tượng và toàn diện đã đạt được. Tuy nhiên, từ đầu tháng 5 đến nay, kinh tế Việt Nam, trong đó có thành phố Cần Thơ chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, bùng phát trở lại ở nhiều địa phương với số ca nhiễm lớn và tăng nhanh, tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của Nhân dân. Đối với thành phố Cần Thơ, dịch bắt đầu bùng phát vào giữa tháng 7 và phải thực hiện giãn cách xã hội, sản xuất kinh doanh, chuỗi cung ứng, thu ngân sách, doanh nghiệp và đời sống của Nhân dân thành phố.

Trước tình hình đó, UBND thành phố đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thành ủy, HĐND thành phố, trên tinh thần quyết liệt hành động, kiên trì mục tiêu kép “Vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi phát triển kinh tế - xã hội” và “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch covid-19”, đã giảm thiểu tác động ảnh hưởng do đại dịch và ước thực hiện nhiệm vụ năm 2021 đạt được một số kết quả quan trọng, cụ thể:

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP năm 2021 (giá so sánh 2010) giảm 2,79% so cùng kỳ. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,12%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 10,70%, làm giảm 3,31 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 0,79%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 0,16%, làm giảm 0,01 điểm phần trăm vào mức tăng chung của thành phố.

- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn ước năm 2021 giảm 2,79% so với cùng kỳ và không đạt kế hoạch đề ra.

+ Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ nông sản trên thị trường nội địa và xuất khẩu; giá bán sản phẩm nông nghiệp, thủy sản thấp trong khi chi phí đầu vào tăng cao. Tuy nhiên không đạt kế hoạch đề ra nhưng tiếp tục là điểm sáng và là nỗ lực rất lớn của thành phố trong chỉ đạo sản xuất và của bà con nông dân trong điều kiện dịch bệnh, đóng góp 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của cả thành phố.

+ Ngành công nghiệp, xây dựng tăng trưởng đạt 89,30%. Sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, xuất khẩu bị giảm sút; thị trường trong nước bị thu hẹp do cầu yếu, nhiều doanh nghiệp đóng cửa hoặc giảm năng lực sản xuất; hoạt động xây dựng cả khu vực công và tư đều bị ngưng trệ.

+ Ngành dịch vụ là ngành kinh tế chủ lực của thành phố, với mức tăng trưởng dương 0,79% là điểm sáng trong việc tổ chức kinh doanh của hệ thống bán lẻ, trung tâm thương mại, siêu thị và tiểu thương đã dần thích ứng trong điều kiện “bình thường mới”, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của cả thành phố.

+ Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 99,84%, giảm 0,16% do tình hình sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu gặp khó khăn nên nguồn thu các loại thuế như VAT, thuế doanh thu khoán, thuế TTĐB hàng nội địa, thuế xuất nhập khẩu giảm.

Về cơ cấu kinh tế: Tình hình dịch bệnh bắt đầu bùng phát vào giữa tháng 7 và phải thực hiện giãn cách xã hội để tập trung phòng, chống dịch đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế - xã hội, sản xuất kinh doanh, chuỗi cung ứng, thu ngân sách, doanh nghiệp và đời sống của Nhân dân thành phố. Hơn thế nữa nó còn làm thay đổi đáng kể cơ cấu kinh tế của thành phố trong năm 2021 theo hướng tăng tỷ trọng khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và giảm tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,80%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,20%; khu vực dịch vụ chiếm 52,45%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,55%. Một số ngành chiếm tỷ trọng cao. Cơ cấu kinh tế nêu trên phản ánh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của các ngành kinh tế trong điều kiện dịch bệnh. 

2. Tài chính, ngân hàng

a) Tài chính ngân sách

Mặc dù được sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương, sự lãnh đạo sâu sát của Thành ủy, công tác giám sát chặt chẽ của HĐND thành phố, sự chỉ đạo quyết liệt của UBND thành phố cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, những tháng đầu năm 2021 tình hình thu ngân sách trên địa bàn đã đạt được kết quả rất thuận lợi. Tuy nhiên, do đại dịch Covid-19 bùng phát nên thành phố phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15/CT-TTg và Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ đó đã ảnh hưởng đến công tác thu, chi ngân sách năm 2021 không đạt kết quả như kế hoạch năm đề ra.

* Thu ngân sách: thực hiện đến 20 ngày tháng 12 năm 2021, tổng thu NSNN 12.940,50 tỷ đồng đạt 70,35% dự toán, trong đó thu nội địa là 9.067,70 tỷ đồng với các nguồn thu chủ lực như thu từ khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 1.903,96 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp Nhà nước 1.319,72 tỷ đồng đạt 86,48% so dự toán, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.076,41 tỷ đồng đạt 98,75% so dự toán, thuế thu nhập cá nhân 766,79 tỷ đồng đạt 97,06% so dự toán. Tính đến 20/12/2021 hoạt động thu thuế hải quan ước đạt 637,58 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 4,93% trong tổng thu ngân sách nhà nước và đạt 75,01% so dự toán.

* Chi ngân sách: ước đến 20 ngày tháng 12 năm 2021 ngân sách đã chi 10.814,33 tỷ đồng đạt 59,37% dự toán, trong đó hoạt động chi đầu tư phát triển 4.498,67 tỷ đồng, chi thường xuyên 6.167,46 tỷ đồng.

b) Tín dụng ngân hàng

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong tháng ổn định nhưng giảm so với đầu năm. Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên nguồn vốn huy động đến cuối tháng 12/2021 chỉ tăng 3,40% so với đầu năm, đáp ứng được 75,89% nguồn vốn cho vay. Tổng dư nợ cho vay tăng 0,59% so với tháng trước, tăng 14,30% so với đầu năm - cao hơn mức tăng trưởng năm 2020 (13,61%). Nợ xấu chiếm 1,43% trên tổng dư nợ cho vay, tăng so với đầu năm.

Hệ thống Ngân hàng thành phố Cần Thơ hiện có 47 chi nhánh tổ chức tín dụng và 07 Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động, vẫn ổn định so với đầu năm.

Vốn huy động đến cuối tháng 12/2021 ước đạt 90.000 tỷ đồng, tăng 0,49% so với đầu tháng, tăng 3,40% so với tháng 12/2020. Trong đó, vốn huy động VNĐ 88.100 tỷ đồng, chiếm 97,89%, tăng 3,22%; ngoại tệ là 1.900 tỷ đồng, chiếm 2,11%, tăng 1,55% so với đầu tháng; vốn huy động ngắn hạn là 62.000 tỷ đồng, chiếm 68,89%, tăng 0,52%; vốn huy động trên 12 tháng là 28.000 tỷ đồng, chiếm 31,11%, tăng 0,42% so với đầu tháng.

Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 12/2021 ước đạt 118.600 tỷ đồng, tăng 0,59% so với đầu tháng, tăng 14,30% so với tháng 12/2020; phân theo loại tiền dư nợ cho vay VNĐ 112.000 tỷ đồng, tăng 0,56% so với đầu tháng, chiếm 94,44%; dư nợ cho vay ngoại tệ 6.600 tỷ đồng, tăng 1,13% so với đầu tháng, chiếm 5,56% tổng dư nợ cho vay; phân theo thời hạn dư nợ cho vay ngắn hạn 65.600 tỷ đồng, tăng 0,72% so với đầu tháng, chiếm 55,31%; dư nợ cho vay trung dài hạn 53.000 tỷ đồng, tăng 0,43% so với đầu tháng, chiếm 44,69% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu đến cuối tháng 12/2021 là 1.700 tỷ đồng, chiếm 1,43% tổng dư nợ cho vay.

Lãi suất huy động và cho vay trong tháng ổn định, hiện nay phổ biến như sau:

Lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,1% - 0,2%/năm; lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 3,4% - 4,0%/năm; lãi suất tiền gửi từ 6 đến 12 tháng phổ biến 4,0% - 6%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến 5,6% - 6,5%/năm tuỳ theo từng loại kỳ hạn.

Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên là 4,5%. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến với ngắn hạn từ 5,5% - 8%/năm; trung, dài hạn từ 8,0% - 10,0%/năm.

Lãi suất huy động USD thực hiện theo quy định là 0%/năm; lãi suất cho vay phổ biến ngắn hạn 3,0% - 4,5%/năm, trung dài hạn 4,5% - 6,0%/năm.

3. Giá cả thị trường

Thị trường tiêu dùng dần phục hồi đã giúp cho nhiều loại hàng hoá có giá bán khởi sắc trở lại, nhiều mặt hàng thiết yếu xác lập mặt bằng giá mới do nhu cầu cuối năm tăng cao và một số mặt hàng tăng giá bán là do đã kết thúc các chương trình khuyến mãi trước đó. Hầu hết các nhóm hàng thiết yếu đều có xu hướng tăng, dù các nguồn hàng đã dồi dào so với thời điểm giãn cách nhưng mức giá vẫn đang được điều chỉnh tăng. Cùng với giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh thì chi phí sản xuất khác như vận tải, logistic, công nhân lao động cũng tăng đáng kể khiến cho giá một số mặt hàng thiết yếu buộc phải có mức điều chỉnh mới.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2021 giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 3,41% so với tháng 12 năm 2020, chỉ số giá bình quân năm 2021 so với bình quân năm 2020 tăng 2,61%.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 4 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng, gồm: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,78%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,10%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%.

Trong tháng có 5 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước, gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,04%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,91%; giao thông giảm 2,32%; bưu chính viễn thông giảm 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,17%.

Nhóm hàng hóa có chỉ số giá ổn định so với tháng trước là Thuốc và dịch vụ y tế và nhóm Giáo dục.

 Các nguyên nhân tác động tăng/giảm đến giá CPI tháng 12 

Các mặt hàng thực phẩm như thịt gia súc, gia cầm, các sản phẩm thịt chế biến (giò chả, thịt heo quay, thịt hộp), thủy sản tươi sống… giảm trong tháng do nhu cầu tiêu dùng giảm. Đặc biệt giá thịt heo vẫn đang xu hướng giảm khi nguồn cung dư thừa và sức mua không cao, giá thịt heo giảm không chỉ bởi giá heo hơi đã giảm mạnh so với trước đây mà còn do sức mua thịt heo yếu, trong khi nguồn cung thịt heo trên thị trường đang rất dồi dào và có sự cạnh tranh của người bán tại các chợ, siêu thị, cửa hàng tự chọn...

Giá các loại trứng gia cầm tăng do, nhu cầu cuối năm tăng cao trong khi nguồn cung hạn chế (do hết vụ vịt đẻ trứng) và tiểu thương nhập hàng giá cao vì phát sinh thêm nhiều chi phí.

Giá rau củ tăng do thiếu hụt nguồn cung nên giá nhiều loại rau củ tăng mạnh (đặc biệt là giá cà chua đang tăng cao 23,96%). Mức giá các loại rau củ tăng từ 2-23% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng giá do nguồn cung đáp ứng cho thị trường thấp, trong khi nhu cầu sử dụng tăng và ảnh hưởng mưa kéo dài khiến năng suất rau củ bị giảm mạnh do hư hại.

Một số công ty gas đầu mối đồng loạt thông báo giảm giá bán lẻ từ ngày 01/12 với mức giảm khoảng 2.000 đồng/kg, tương đương 24.000-24.500 đồng/bình 12 kg. Nguyên nhân, do giá giao dịch gas thế giới tháng 12/2021 giảm 77,5 USD/tấn so với tháng trước, kéo giá gas xuống còn 772,5 USD/1 tấn, giúp giá gas bán lẻ trong nước giảm mạnh. Theo đó, các sản phẩm gas bán lẻ của doanh nghiệp giảm ở mức 12.000 đồng đối với bình 6 kg, 24.500 đồng đối với bình 12 kg, 92.000 đồng đối với bình 45 kg, 102.000 đồng loại bình 50 kg.

Giá xăng dầu trong nước có kỳ giảm mạnh thứ hai liên tiếp. Nguyên nhân là do chịu tác động của xu hướng thế giới, giá xăng dầu trong nước chịu ảnh hưởng từ giá thế giới do phụ thuộc nhiều vào nguyên, nhiên liệu nhập khẩu. Vì thế, khi giá thế giới có xu hướng giảm thì giá trong nước cũng sẽ giảm. 

Giá vật liệu xây dựng tăng do tình hình giá nhiên liệu, nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất như: điện, than, dầu, thạch cao… trên thị trường thế giới tăng cao dẫn đến giá thành sản xuất cũng đội lên tác động làm giá bán tăng.

4. Tình hình thực hiện vốn đầu tư

Thành phố phấn đấu giải ngân tối đa nguồn vốn được bố trí năm 2021, đôn đốc đối với các công trình, dự án trên địa bàn, kịp thời chấn chỉnh, đề ra các biện pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân đối với từng dự án.

Ước thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 12 năm 2021 được 673,26 tỷ đồng. Trong đó, vốn cân đối ngân sách thành phố thực hiện được 114,89 tỷ đồng, vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện được 84,46 tỷ đồng, vốn nước ngoài ODA 100,11 tỷ đồng, vốn xổ số kiến thiết thực hiện được 83,43 tỷ đồng, nguồn vốn khác thực hiện được 34,42 tỷ đồng, vốn ngân sách cấp huyện được 255,96 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện năm 2021 được 4.210,41 tỷ đồng đạt 67,31% kế hoạch năm. Trong đó, vốn cân đối ngân sách thành phố thực hiện được 621,28 tỷ đồng đạt 79,66% kế hoạch năm, vốn trung ương h trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện được 423,54 tỷ đồng đạt 100% kế hoạch năm, vốn nước ngoài ODA 657,14 tỷ đồng đạt 34,40% kế hoạch năm, vốn xổ số kiến thiết 461,16 tỷ đồng đạt 70,99% kế hoạch năm, nguồn vốn khác thực hiện được 578,73 tỷ đồng đạt 97,27% kế hoạch năm, vốn ngân sách cấp huyện được 1.468,56 tỷ đồng đạt 77,41% kế hoạch năm.

Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2021 đạt thấp so với kế hoạch năm, nguyên nhân là do: dịch bệnh diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình, bên cạnh đó là công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư triển khai chậm; biến động giá vật liệu xây dựng, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện và xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh ở các đơn vị hoạt động ngành xây lắp. Việc giải ngân chậm cũng ảnh hưởng đến vốn đối ứng cho các đơn vị thi công, điều này đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình xây dựng.

Vốn ngoài nhà nước chủ yếu là doanh nghiệp của địa phương, hộ dân cư và những dự án do liên doanh giữa những tổng công ty, tập đoàn trong nước được cấp phép đầu tư, xây dựng trên địa bàn thành phố, cụ thể dự án bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Cần Thơ do Công ty Cổ phần Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec làm chủ đầu tư với tống mức đầu tư là 2.061 tỷ đồng, hiện nay công trình đang trong giai đoạn hoàn thiện và trang bị trang thiết bị, máy móc, dự kiến công trình sẽ đưa vào sử dụng trong năm 2022. Do ảnh hưởng của dịch bệnh, vì vậy tổng mức đầu tư khu vực dân cư cũng như của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ đạt thấp, các dự án của các tập đoàn, liên doanh tập đoàn và tổng công ty vẫn chưa được triển khai. Vì vậy, vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn thành năm 2021 đạt thấp.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Ước 11 tháng 2021, thành phố đã phê duyệt cấp mới 05 dự án FDI, vốn đăng ký thực hiện khoảng 1.316,8 triệu USD (ước tháng 11, cấp mới 01 dự án, vốn đăng ký 17.621 USD). Có 01 dự án chuyển thành dự án trong nước (Dự án Trung tâm bảo dưỡng xe, bán lẻ xe ô tô và cao ốc văn phòng cho thuê, vốn đăng ký 6 triệu USD). Luỹ kế, trên địa bàn thành phố có 85 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài do thành phố quản lý, với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 2.043 triệu USD, ước vốn thực hiện đạt khoảng 531,58 triệu USD, chỉ đạt khoảng 26% so với tổng vốn đăng ký.

* Tình hình thực hiện các công trình chủ yếu của thành phố

Dự án phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị (dự án 3), Dự án có tổng mức đầu tư 7.843,19 tỷ đồng, được thực hiện bằng nguồn vốn ODA, do Ban quản lý ODA thành phố Cần Thơ làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2021 được giao 1.546,44 tỷ đồng. Nhiều công trình và hạng mục công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, như dự án hồ Bún Xáng, dự án Cầu Quang Trung,… Hiện nay, chủ đầu tư và nhà thầu đang khẩn trương thực hiện một số hạng mục công trình để đạt kế hoạch đề ra, cụ thể: dự án đường Hoàng Quốc Việt (thuộc dự án 3) chủ đầu tư và nhà thầu đang san lắp và chuẩn bị mặt bằng, khẩn trương thực hiện để phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.

Dự án Bệnh viện Ung Bướu thành phố Cần Thơ, dự án có tổng mức đầu tư là 1.727,9 tỷ đồng được thực hiện bằng nguồn vốn ODA do Sở Y tế thành phố làm chủ đầu tư, kế hoạch vốn năm 2021 được giao là 759,83 tỷ đồng. Hiện nay, dự án đang trong giai đoạn trát tường và thi công hệ thống điện. Đây cũng là một trong những dự án chậm tiến độ của thành phố.

Dự án Đường tỉnh 922 (xây dựng và nâng cấp giai đoạn 1 từ quốc lộ 91B đến Cờ Đỏ), dự án có tổng mức đầu tư là 1.494,93 tỷ đồng do Ban quản lý dự án đầu tư thành phố làm chủ đầu tư, dự án có tổng chiều dài khoảng 29 km. Kế hoạch vốn năm 2021 được giao là 147,58 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện tại, dự án đã hoàn thành trên 95% khối lượng, riêng phần cầu và đường dân sinh lên cầu còn vướng mặt bằng. Chủ đầu tư và nhà thầu đang khẩn trương thực hiện để có thể thông xe vào cuối tháng 12/2021.

Dự án Kè chống sạt lở khu vực chợ Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, dự án có tổng mức đầu tư là 195,85 tỷ đồng do Chi cục Thủy lợi thành phố làm chủ đầu tư, kế hoạch vốn năm 2021 được giao là 90 tỷ đồng. Đây là một trong những dự án mới có vốn kế hoạch thực hiện trong năm 2021. Hiện nay, chủ đầu tư và nhà thầu đã bắt đầu triển khai những hạn mục công trình đầu tiên, và sớm hoàn thành đưa vào sử dụng đúng kế hoạch đề ra.

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng, chăn nuôi, thủy sản đạt khá và chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực; sử dụng giống lúa chất lượng cao và các giống thơm đặc sản từ 90% trở lên trên mỗi vụ; chăn nuôi chuyển biến rõ nét về tổ chức sản xuất, chăn nuôi trang trại, tập trung theo chuỗi khép kín, an toàn sinh hoạt theo quy trình VietGAHP, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, tổ chức sản xuất theo chuỗi, gắn với chế biến và xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, tạo nhiều mối liên kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giúp nông dân cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.  

 a) Nông Nghiệp

- Trồng trọt

+ Cây lúa: diện tích ước tính đạt 222.376 ha, giảm 0,28% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích gieo trồng vụ lúa đông xuân đạt 77.187 ha, so với cùng kỳ năm trước thấp hơn 2.077 ha; diện tích lúa vụ hè thu gieo trồng được 75.194 ha, tăng so với vụ hè thu 2020 là 179 ha và diện tích gieo trồng vụ lúa thu đông đạt 69.995 ha so với cùng kỳ tăng 1.275 ha. Năng suất lúa cả năm đạt 63,55 tạ/ha, so năm 2020 tăng 1,68%, bằng 1,08 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 1.413.241 tấn, so với năm 2020 tăng 1,44%, bằng 20.046 tấn.

Năng suất và sản lượng: lúa đông xuân đạt 74,52 tạ/ha, so vụ đông xuân 2020 tăng 3,15% so với cùng kỳ (tăng 2,28 tạ/ha), sản lượng lúa đông xuân đạt 575.219 tấn, tăng 1,00% bằng 2.586 tấn; năng suất thu hoạch hè thu đạt 59,67 tạ/ha, so năng suất hè thu năm 2020 giảm 2,46%, bằng 1,5 tạ/ha, sản lượng đạt 448.648 tấn, so hè thu 2020 giảm 2,22% bằng 10.202 tấn; năng suất lúa thu đông ước đạt 55,63 tạ/ha, so 2020 tăng 5,69% bằng 2,99 tạ, sản lượng ước là 389.375 tấn, tăng so cùng kỳ 7,65% bằng 27.662 tấn.

Năng suất, sản lượng lúa tăng hơn so cùng kỳ 2020 do. Ngoài ra bà con nông dân được ngành chức năng cử cán bộ kỹ thuật của thành phố, quận, huyện xuống tận xã, phường bám chặt đồng ruộng chỉ đạo, hướng dẫn nông dân từ lúc xuống giống cho đúng lịch thời vụ và chăm sóc lúa đúng kỹ thuật nên cũng giúp bà con sản xuất lúa hạn chế sâu bệnh. Ngành nông nghiệp quan tâm hướng dẫn nông dân thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, tưới nước tiết kiệm, sử dụng các chế phẩm sinh học và công nghệ sinh thái trong quản lý sâu rầy… nhằm tạo điều kiện cho cây lúa khỏe, giảm áp lực sâu bệnh và giảm được lượng sử dụng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Giá lúa tươi năm 2021 trung bình từ 5.600 đ/kg - 6.200 đ/kg (giá máy cắt bán tại ruộng) cao hơn so năm 2020 từ 800 đ/kg - 1.100 đ/kg. Nguyên nhân giá lúa tăng là do thị trường xuất khẩu lúa gạo Việt Nam ổn định ở mức cao. Một năm sau khi thực thi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) đã có nhiều tác động tích cực và mang lại những “quả ngọt” ban đầu trong xuất khẩu lúa gạo Việt sang thị trường EU, trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nhu cầu về lúa gạo của thế giới đã và đang tăng lên.

+ Cây hàng năm khác: tổng diện tích đạt 17.321 ha, vượt 17% kế hoạch, giảm 4% so cùng kỳ với sản lượng 198.896 tấn, tăng 1% so cùng kỳ 2020. 

+ Cây lâu năm: Tổng diện tích sơ bộ đạt 24.933 ha, tăng 7,56% (+1.753 ha) so cùng kỳ 2020. Trong đó, diện tích cây ăn quả 23.416 ha, chiếm 93,91% trong tổng diện tích cây lâu năm, tăng 8,29% bằng 1.793 ha so cùng kỳ năm 2020, tập trung tăng chủ yếu ở diện tích trồng sầu riêng, mít, na, nhãn, mận.

Nguyên nhân diện tích cây ăn quả tăng là do được hỗ trợ đầu tư đê bao khép kín bảo vệ vườn cây ăn quả, vận động nông dân cải tạo vườn tạp và đẩy mạnh chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang phát triển vườn cây ăn trái, cộng với tình hình nắng hạn khá gay gắt và dự báo mùa mưa năm nay đến muộn, nông dân đã tích cực chuyển đổi từ trồng lúa sang các loại cây ăn quả để tăng thêm hiệu quả kinh tế (có 774 ha diện tích trồng cây ăn quả  được chuyển đổi từ nền đất trồng lúa như xoài, mít, sầu riêng, chanh,...). Ngoài ra nhà vườn còn được các ngành chức năng trợ giá cây giống nên đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Với định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện nay đã xây dựng được 37 vườn cây ăn trái kết hợp phát triển du lịch sinh thái, lợi nhuận cao gấp 1,5 - 2 lần so với trồng chuyên cây ăn trái. Hiện tại, Cần Thơ có 416 ha cây ăn trái sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP. Nhiều nông dân, doanh nghiệp đã đầu tư phát triển sản xuất cây ăn trái ứng dụng công nghệ cao để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm và đảm bảo an toàn thực phẩm. Trên địa bàn thành phố có 477 ha diện tích tưới phun, tưới tiết kiệm trên cây ăn quả. Việc áp dụng biện pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước trên cây trồng đã làm giảm chi phí lao động từ 20-30%; tăng năng suất cây trồng từ 10-15% so với áp dụng tưới thông thường. Từ đó, giảm chi phí sản xuất khoảng 20-25 triệu đồng/ha so với phương pháp tưới truyền thống. Hiện nay toàn thành phố có 71 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn trái với năng lực cung ứng 650.000 cây/năm,  diện tích nhiễm dịch hại trên cây có múi là 12 ha thấp hơn 39 ha so với cùng kỳ, các đối tượng dịch hại như rệp sáp 5 ha, bệnh ghẻ nhám 3 ha và bệnh muội đen 4 ha, tập trung tại huyện Phong Điền.

Nhìn chung, tổng sản lượng cây lâu năm đạt khoảng 175.770 tấn, tăng 16,23% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó, sản lượng cây ăn quả là 167.776 tấn tăng 17,2% so cùng kỳ 2020. Sản lượng tăng là do bà con nông dân được ngành Nông nghiệp hỗ trợ về kỹ thuật chăm sóc cây trồng nên ngày càng tiếp cận được các kỹ thuật tiên tiến. Bên cạnh đó còn do bà con phun thuốc kích thích cho trái mùa nghịch nhiều vụ trong năm nên sản lượng có phần tăng hơn cùng kỳ năm 2020.

Giá bán các loại cây ăn trái một số loại như sau: xoài cát Hòa Lộc khoảng 30.000-35.000 đ/kg, sầu riêng từ 27.000-43.000 đ/kg, xoài Đài Loan ở mức giá 15.000 đ/kg, chôm chôm 10.000 đ/kg, đu đủ 8.000 đ/kg, hạnh 4.000-5.000 đ/kg,…. Giá các mặt hàng trái cây xuống thấp do ảnh hưởng trực tiếp của dịch Covid-19, các vựa thu mua trái cây lớn và chợ đầu mối trên địa bàn hoạt động còn hạn chế.

- Chăn nuôi:chuyển biến rõ nét về tổ chức sản xuất, chăn nuôi trang trại, tập trung theo chuỗi khép kín, an toàn sinh học; phát triển chăn nuôi theo quy trình VietGAHP (toàn thành phố có 250 trang trại chăn nuôi, 03 mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi, 04 mô hình chăn nuôi đạt chứng nhận VietGAHP).

+ Đàn trâu, bò: ước đạt 4.691 con, trong đó đàn bò đạt 4.416 con, so cùng kỳ 2020 tăng 334 con. Đàn bò sữa đạt 1.545 con so cùng kỳ tăng 123 con. Tình hình chăn nuôi trâu bò thuận lợi và ổn định, do không có dịch bệnh xảy ra đàn bò thịt tăng nhằm cung cấp sản phẩm thịt trong những dịp lễ cuối năm. Đàn bò sữa tăng là do người dân chủ động tăng đàn để tham gia vào chuỗi sản xuất liên kết với công ty Vinamilk, mô hình kinh tế này góp phần nâng cao đời sống người dân và phát triển tam nông bền vững.

+ Đàn heo: Tổng đàn heo ước khoảng 130.536 con. Trong đó, đàn heo thịt ước 117.675 con, so với thời điểm 01/01/2020 tăng 17.750 con bằng 17,76%; đàn heo nái đạt 10.996 con, tăng so với cùng kỳ là 8.27%. Đàn heo đực giống có 55 con.

Nguyên nhân đàn heo biến động như trên là do: Tình hình dịch tả heo Châu Phi đã ổn định trở lại, từ cuối năm 2020 tới đầu quý I/2021 do giá heo hơi tăng cao; sản lượng heo xuất chuồng ít lên một bộ phận người dân nuôi đầu tư chăn nuôi với quy mô lớn, có điều kiện kiểm soát được dịch bệnh đã chủ động tái đàn, nên tới cuối năm nay tổng đàn heo phát triển tốt.  

 + Đàn gia cầm: có 2.155 ngàn con, so cùng kỳ năm 2020 tăng 6,49%, bằng 431.000 con. Trong đó, đàn gà đạt 700 ngàn con, so cùng kỳ năm 2020 tăng 9,03%, bằng 58 ngàn con; đàn vịt ước đạt 1.341 ngàn con, so cùng kỳ  tăng 3,01%, bằng 39 ngàn con.

Nguyên nhân: Trong năm không xảy ra dịch bệnh nghiêm trọng, nên bà con nông dân yên tâm phát triển đàn gia cầm trở lại, dẫn đến tổng đàn tăng. Tăng chủ yếu ở đàn vịt thời vụ và đàn gà thịt do đến thời điểm thả nuôi chính. Một số hộ đầu tư thêm con giống, thức ăn, chuồng trại và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào khâu chăn nuôi nên đã làm cho đàn gia cầm tăng trở lại.

+ Sản phẩm chăn nuôi

- Thịt heo: Sản phẩm thịt heo xuất chuồng đạt 21.864 tấn, so cùng kỳ 2021 tăng 22,82% (+3.873 tấn). Do trong năm 2021 tổng đàn heo thịt phát triển mạnh nên sản lượng xuất chuồng tăng.

- Thịt bò: Sản lượng thịt bò xuất chuồng ước đạt 327 tấn, so cùng kỳ năm 2020, tăng 52 tấn. Nguyên nhân, do đàn bò thịt đã đến thời điểm xuất chuồng nên sản lượng thịt bò tăng; sản lượng sữa tươi trong kỳ đạt 1.650 tấn, tăng 449 tấn so cùng kỳ 2020.

- Thịt gia cầm: Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng ước đạt 7.685 tấn, so cùng kỳ năm 2020 tăng 12,60%, bằng 111 tấn. Tập trung ở sản lượng đàn vịt và đàn gà.

- Sản lượng trứng gia cầm: Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 89.357 nghìn quả, so cùng kỳ năm 2020 tăng 9,55%, chủ yếu là do sản phẩm trứng của đàn gia cầm thời vụ tăng.

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố Cần Thơ không xảy ra dịch bệnh trên gia súc, gia cầm (bệnh tai xanh ở heo, lở mồm long móng gia súc và cúm gia cầm) và thủy sản. Tuy nhiên, từ ngày 24/9/2021- 24/10/2021, xuất hiện bệnh Viêm da nổi cục ở trâu, bò xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi bò của 02 đàn bò trong ổ dịch: 26 con; ngành Thú y phối hợp với chính quyền địa phương chôn hủy bò mắc bệnh là 01 con, khối lượng 205 kg. Ngành Nông nghiệp tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và hướng dẫn áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh.

Toàn thành phố hiện có 59 cơ sở sản xuất và mua bán sản phẩm giống vật nuôi. Trong đó có 34 cơ sở chăn nuôi heo sản xuất con giống, 16 cơ sở chăn nuôi heo sản xuất tinh, 05 cơ sở chăn nuôi heo vừa sản xuất con giống và tinh heo, 04 cơ sở chăn nuôi vịt sản xuất con giống. Với khả năng cung cấp trên 30.000 con heo giống/năm, 350.000 con vịt giống/năm và 100.000 liều tinh heo/năm.

Sản lượng chăn nuôi của thành phố cung ứng 50-70% nhu cầu thị trường, số lượng còn lại nhập từ các tỉnh thành khác để cung ứng đủ cho người tiêu dùng. Giá heo hơi có sự biến động nhẹ và giao động ở mức từ 42.000 - 45.000 đồng/kg; giá trâu, bò hơi ổn định ở mức từ 70.000 - 80.000 đồng/kg; giá gà ta duy trì ở mức từ 85.000 - 90.000 đồng/kg; giá vịt hơi từ 42.000 - 47.000 đồng/kg; sữa bò tươi dao động từ 10.000 - 14.000 đồng/kg; trứng gà công nghiệp từ 1.700 - 2.500 đồng/quả; trứng gà ta: 3.000 - 3.500 đồng/quả; trứng vịt dao động từ 2.500 - 3.000 đồng/quả.

Lĩnh vực chăn nuôi được chú trọng tái cấu trúc theo phương thức an toàn sinh học và an toàn vệ sinh thực phẩm; hình thành các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung quy mô lớn liên kết sản xuất theo chuỗi. Hiện có 03 mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi.

b) Lâm nghiệp

Số lượng trồng cây lâm nghiệp phân tán là 867 ngàn cây, so với cùng kỳ 2020 tăng 7 ngàn cây, chủ yếu trồng xung quanh vườn, lối đi…Nguyên nhân  trồng cây phân tán  năm nay tăng so cùng kỳ là do quá trình đô thị hóa của Cần Thơ đang được đẩy mạnh, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp cùng với thời tiết năm nay không thuận lợi trồng mới cây lâm nghiệp, đồng thời do một số vùng đất quy hoạch khu dân cư, cải tạo vườn kém hiệu quả, cây lâm nghiệp chỉ được bà con trồng rải rác ở các tuyến lộ giao thông, trường học để có bóng mát và tạo cảnh quan môi trường nên số lượng cây trồng mới tăng ít so với các năm về trước.

  Sản phẩm khai thác lâm nghiệp năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng, giảm không nhiều: Gỗ giảm 0,10%; củi giảm 0,72%; tre tăng 3,13%; trúc tăng 0,23%; măng giảm 6,25%; lá dừa nước giảm 13,33%. 

c) Thủy sản

- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 8.253 ha (+322 ha so với cùng kỳ năm 2020). Trong đó, diện tích nuôi cá tra thâm canh, bán thâm canh ước đạt 721 ha (-2,04% so cùng kỳ 2020), các loại cá còn lại khoảng 7.495 ha (+4,66%), diện tích thả nuôi tôm 9,6 ha (-2 ha so cùng kỳ 2020), diện tích nuôi thuỷ sản khác 27,85 ha, ổn định so cùng kỳ 2020.

Nuôi thủy sản lồng bè ước đạt 305 cái, giảm 11% so cùng kỳ 2020 do một số hộ Phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt mua lại những lồng bè nhỏ lẻ, đầu tư nuôi lại lồng bè với quy mô lớn hơn.

- Sản lượng thủy sản đạt 217.345 tấn, giảm 7.746 tấn (-3,44%) so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, sản lượng khai thác thủy sản nội địa và sản lượng nuôi trồng thủy sản nội địa cụ thể như sau:

  + Sản lượng khai thác thủy sản nội địa khoảng 6.627 tấn, tăng 276 tấn (+4,34%) so cùng kỳ năm 2020. Khai thác thủy sản nội địa chủ yếu từ lưới, chài, lú, ghe cào…tại các con sông, kênh, mương với sản lượng khai thác 50 kg đến 100 kg/hộ/ngày đối với các hộ ghe cào, chính quyền các cấp vận động bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên, hạn chế một số công cụ đánh bắt và có chính sách thả nuôi, nhân giống thủy sản nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tự nhiên cộng với mùa nước thượng nguồn đổ về nên lượng thuỷ sản được khai thác tăng lên.

+ Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản khoảng 210.718 tấn, so với cùng kỳ 2020 giảm 3,67%, bằng 8.022 tấn. Trong đó sản lượng thu được từ cá nuôi nước ngọt đạt 209.463 tấn, giảm 3,77% bằng 8.209 tấn so cùng kỳ 2020, chiếm 99,4% tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng nội địa. 

Sản lượng cá tra đạt 180.769 tấn, giảm 5,87% so cùng kỳ 2020; cá rô 3.295 tấn, tăng 3,39%; sản lượng cá chim trắng 926 tấn (tăng 40 tấn), cá diêu hồng 776 tấn; cá trê 1.918 tấn, tăng 132 tấn so cùng kỳ năm 2020. Những tháng đầu năm 2021, thị trường tiêu thụ cá tra có nhiều khởi sắc, các doanh nghiệp chế biến ký thêm nhiều hợp đồng mới, giá cá tra nguyên liệu duy trì ở mức ổn định dao động 21.500 - 22.000 đồng/kg (kích cỡ 700 - 800 g/con). Sản lượng cá tra tăng gần 6% so cùng kỳ năm trước do nhiều nông hộ xuất bán những diện tích nuôi cầm chừng lúc trước.

Sản lượng cá trê thâm canh, bán thâm canh tăng hơn cùng kỳ 2020 do mô hình nuôi cá trê đã bị thu hẹp những năm gần đây, nguồn cá trê khan hiếm. Một số hộ dân phường Phước Thới (quận Ô Môn) đã tận dụng những ao bỏ trống trước đây để nuôi cá trê vàng cung ứng ra thị trường.

Sản lượng các loại cá khác còn lại đạt 21.779 tấn (tăng 14,45% so cùng kỳ 2020), do nhiều hộ nông dân áp dụng nuôi theo cá theo mô hình nuôi cá trong vèo, phát triển mạnh ở các huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai cho năng suất và sản lượng cao cộng với các hộ nuôi cá trong lồng bè mở rộng quy mô nuôi trên những nền những lồng bè trước đó nên năng suất, sản lượng cá nuôi lồng bè (diêu hồng, chim trắng, cá khác nuôi bè) tăng lên đáng kể so cùng kỳ 2020.

Sản lượng các loại thủy sản khác đạt khoảng 1.245 tấn (+189 tấn so cùng kỳ năm 2020). Trong đó ếch đạt 889 tấn, lươn 344 tấn. Do những năm gần đây, mô hình nuôi ếch, lươn,… trong bể bồn, vèo được người dân phát triển mạnh mẽ cho năng suất và sản lượng cao ở các quận, huyện: Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai. Do nguồn ếch đồng ngày càng khan hiếm trong khi nhu cầu vẫn gia tăng, nhiều mô hình nuôi ếch trên địa bàn các quận huyện đã và đang mang lại lợi nhuận cao cho nông dân.

Trên địa bàn TP Cần Thơ có 121 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản bao gồm các đối tượng: tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, cá thát lát, cá rô đồng, cá trê lai, cá rô phi, cá chép, cá sặc rằn... trong đó, có 31 cơ sở sản xuất tôm giống và 90 cơ sở sản xuất, ương dưỡng cá giống. Sản lượng giống đạt 2.377 triệu con (+0,23%) so cùng kỳ 2020, cá tra giống 405 triệu con (+0,62%), cá bột 1.460 triệu con (-23 triệu), cá giống khác đạt 420 triệu con (+6,06%), tôm giống 66 triệu con, ổn định so cùng kỳ 2020. Hiện tại, giá cá tra giống dao động từ 25.000 - 28.000 đồng/kg giảm khoảng 4.500 đồng/kg so với tháng trước, cá giống kích cỡ 2 cm chiều cao thân - mẫu 30 con/kg giá từ 25.000 - 26.000 đồng/kg, giá cá giống 1,5 cm chiều cao thân - mẫu 70 con/kg giá từ 27.000 - 28.000 đồng/kg.

Giống thủy sản khác (ếch, lươn, ba ba,…) khoảng 27 triệu con, tăng 2 triệu con so với cùng kỳ năm 2020, do nhu cầu tiêu thụ và giá cả các loại thủy sản này trên thị trường ngày càng tăng cao nên người nuôi mở rộng thêm diện tích sản xuất giống.

6. Sản xuất công nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp

Sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp phải ngưng hoạt động, thực hiện tạm giãn ca, giảm ca, giảm tiến độ sản xuất để phòng chống dịch bệnh và thích nghi với trạng thái bình thường mới; từ tháng 10 đến nay, sản xuất công nghiệp đang dần khôi phục lại hoạt động, tuy nhiên một số sản phẩm chủ lực vẫn giảm do chưa khôi phục lại thị trường.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước thực hiện tháng 12 tăng 6,86% so tháng trước và giảm 6,53% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 4,81%; ngành phân phối điện đạt 22,81%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 1,32% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2021 giảm 10,11% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành công nghiệp chủ yếu có chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2021 giảm mạnh hơn so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 9,98%, ngành phân phối điện giảm 12,03%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải giảm 6,92%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực vẫn giảm so với cùng kỳ, cụ thể sản phẩm phi lê đông lạnh giảm 9,03%; gạo xay xát giảm 22,47%; bia đóng lon giảm 19,4%; dược phẩm dạng viên giảm 25,6%; xi măng giảm 33,33%; sản phẩm đinh, đinh mũ, ghim dập, đinh vít giảm 40,8%. Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đang có nhiều chuyển biến tích cực hơn những tháng trước, tuy nhiên số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và số lao động đang làm việc tại doanh nghiệp vẫn thấp so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 12 giảm 19,66% so với tháng cùng kỳ. Năm 2021, chỉ số tiêu thụ ước giảm 19,24% so với cùng kỳ năm trước. Dịch bệnh bùng phát, không chỉ ảnh hưởng đến tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống người dân, điều này cũng tác động đến nhu cầu mua sắm của người dân, thu nhập giảm, chi tiêu sẽ giảm, vì vậy tiêu thụ cũng giảm theo. Nhiều ngành có mức tiêu thụ đạt thấp so với cùng kỳ, cụ thể: xay xát và sản xuất bột thô giảm 19,14%; sản xuất bia giảm 19,43%; sản xuất đồ uống không cồn giảm 16,84%; may trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) giảm 23,53%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 44,29%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 25,68% và sản xuất xi măng giảm 33,34%.

 Tiêu thụ sản phẩm công nghiệp ước tháng 12/2021 đạt thấp so với cùng kỳ, nhưng đã khởi sắc hơn tháng trước; hiện tại, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh đang dần dần khôi phục, các quy định về phòng dịch được nới lỏng hơn rất nhiều, nhu cầu mua sắm của người dân cũng dần tăng cao, nhiều nhà phân phối và đại lý đã bắt đầu trữ hàng để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp Tết dương lịch 2022 và Tết nguyên đán sắp tới. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành có mức tiêu thụ tăng như: sản xuất thuốc lá ước năm 2021 tăng 9,09% so với cùng kỳ; sản xuất bánh răng tăng 25,28%, và sản xuất máy nông nghiệp tăng 25,61% do hiện nay đang bắt đầu thời điểm gieo trồng vụ lúa đông xuân, nhu cầu mua sắm trang thiết bị nông nghiệp của nông dân tăng cao, vì vậy tiêu thụ ngành sản xuất máy nông nghiệp tăng.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/12/2021 tăng 33,59% so với tháng cùng kỳ. Để giảm bớt lượng hàng tồn kho, các doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp hơn vào thời điểm hiện tại, sản xuất theo đơn đặt hàng, có nhiều hình thức khuyến mãi, chiêu thị hơn khi mua sản phẩm của doanh nghiệp để tăng kích cầu tiêu dùng, vì tâm lý người tiêu dùng hiện tại chỉ chi tiêu vào hoạt động thiết yếu.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp ước tháng 12/2021 tăng 1,67% so với tháng trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,33%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 0,29% và tăng 15,96% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tình hình lao động đang làm việc tại doanh nghiệp ít biến động so với tháng trước, nhưng vẫn giảm so với cùng kỳ do ảnh hưởng của dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo phương án 3 tại chỗ, vì vậy lực lượng lao động tham gia việc giảm so với cùng kỳ.

Ước tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2021: cấp mới 1.250 lượt hồ sơ đăng ký mới doanh nghiệp với tổng vốn 16.000 tỷ đồng, đạt 78,12% KH về số lượng doanh nghiệp và vượt 23,07% KH về vốn, giảm 16,56% về số lượng doanh nghiệp và tăng 30% về vốn so năm 2020.

Theo Cục Thuế, đến ngày 30/11/2021 thành phố Cần Thơ hiện có tổng số 11.906 doanh nghiệp đang hoạt động.

7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ

Năm 2021, do dịch bệnh Covid-19 tiếp tục đợt dịch thứ 4 và tập trung ở các tỉnh phía Nam, gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội của người dân. Trong đó, thành phố Cần Thơ là một trong những tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề của đợt dịch này từ tháng 7 đến nay. Tuy nhiên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2021 về việc thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 với mục tiêu công tác phòng, chống dịch vẫn là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của Nhân dân, khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, trật tự an toàn xã hội.

        a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 12/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 13.537,85 tỷ đồng, tăng 6,23% so với tháng trước, tăng 3,35% so với cùng kỳ. Năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 132.838,01 tỷ đồng, đạt 95,91% so với cùng kỳ. Cụ thể:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 12 năm 2021 ước đạt 11.776,85 tỷ đồng, tăng 6,18% so với tháng trước, tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ như: lương thực, thực phẩm tăng 8,47%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,49%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 36,84%; ô tô các loại tăng 10,09%; xăng dầu tăng 10,54% và nhiên liệu (gas) tăng 24,87%...

Ước năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 114.683,50 tỷ đồng giảm 1,60% so với cùng kỳ. Trong đó, có một số nhóm hàng tăng cụ thể như: lương thực, thực phẩm tăng 6,93%, xăng dầu các loại tăng 9,92%, nhiên liệu khác tăng 9,61% và hàng hóa khác tăng 7,85%. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên một số nhóm ngành hàng giảm so với cùng kỳ như: hàng may mặc giảm 15,48%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 4,32%; vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 18,21%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 3.08%, ô tô các loại giảm 25,54%; phương tiện đi lại giảm 19,30%..

Doanh thu lưu trú, ăn uống, dịch vụ trên địa bàn thành phố ước tính tháng 12/2021 đạt 1.761,00 tỷ đồng, tăng 6,18% so với tháng trước, giảm 17,33% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế, dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 680,55 tỷ đồng giảm 24,50% so cùng kỳ và dịch vụ khác đạt 1.080,35 tỷ đồng giảm 12,07% so cùng kỳ.

Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành, dịch vụ trên địa bàn thành phố ước năm 2021 đạt 18.154,51 tỷ đồng giảm 19,42% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 6.872,49 tỷ đồng giảm 24,85% so cùng kỳ, du lịch lữ hành đạt 121,84 tỷ đồng giảm 52,20% so cùng kỳ, dịch vụ đạt 11.160,18 tỷ đồng giảm 15,01% so cùng kỳ.

Ước năm 2021, doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành, dịch vụ giảm so với cùng kỳ do ảnh hưởng của dịch Covid-19, các cơ sở kinh doanh cần tuân thủ chặt chẽ các quy tắc phòng chống dịch bệnh nhằm phục hồi dần khi dịch dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp. Riêng đối với ngành du lịch cần tạo ra các sản phẩm du lịch mới, an toàn thích nghi với điều kiện dịch bệnh hiện tại. Bên cạnh đó cần có lộ trình cụ thể để mở cửa đón khách quốc tế trở lại với thành phố Cần Thơ trong năm 2022.

b) Giao thông vận tải

Trong bối cảnh dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế, xã hội của cả nước nói chung và Thành phố Cần Thơ nói riêng. Về sự giảm sâu của một số ngành, lĩnh vực trong thời gian gần đây nhất là ngành du lịch, dịch vụ, vận tải. Đây cũng là một điều dễ hiểu bởi tác động của dịch Covid -19 khiến các tỉnh thành phố trọng điểm, đầu tàu kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề. Đặc biệt diễn biến dịch phức tạp khó lường và giãn cách xã hội kéo dài từ tháng Bảy đến hết quý III/2021 đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của một số nghành lĩnh vực.

- Vận tải hành khách: tháng 12/2021, ước vận chuyển 4,23 triệu lượt hành khách, tăng 6,18% so với tháng trước, giảm 30,42% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 60,11 triệu lượt hành khách.km đạt 77,60% so với cùng kỳ. Ước năm 2021, vận chuyển 49,38 triệu lượt hành khách, giảm 23,67% so cùng kỳ, luân chuyển 698,26 triệu lượt hành khách.km đạt 77,60% so cùng kỳ.

Chia ra: đường bộ tháng 12/2021, ước vận chuyển 3,04 triệu lượt hành khách giảm 20,30% so cùng kỳ, luân chuyển 58,72 triệu lượt hành khách.km đạt 68,11% so cùng kỳ, đường sông ước vận chuyển 1,19 triệu lượt hành khách đạt 52,44% so cùng kỳ, luân chuyển 1,39 triệu lượt hành khách.km chỉ đạt 46,73% so cùng kỳ năm trước.

- Vận tải hàng hoá: tháng 12/2021, ước vận chuyển 0,58 triệu tấn hàng hoá, tăng 16,74% so với tháng trước, giảm 30,91% so cùng kỳ; luân chuyển 92,22 triệu tấn.km đạt 65,32% so cùng kỳ. Ước năm 2021 vận chuyển 7,22 triệu tấn hàng hóa giảm 23,56% so cùng kỳ; luân chuyển 1.147,06 triệu tấn.km đạt 77,57% so cùng kỳ.

Chia ra: đường bộ tháng 12/2021, ước vận chuyển 0,20 triệu tấn giảm 37,96% so cùng kỳ, luân chuyển 43,35 triệu tấn.km đạt 71,63% so cùng kỳ; đường sông ước vận chuyển 0,37 triệu tấn, giảm 25,21% so cùng kỳ, luân chuyển 38,87 triệu tấn.km đạt 34,11% so cùng kỳ) và đường biển ước vận chuyển đạt 0,01 triệu tấn giảm 53,84% so cùng kỳ, luân chuyển 10,00 triệu tấn. km đạt 46,15% so cùng kỳ).

- Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: tháng 12/2021 ước thực hiện 199,19 tỷ đồng, tăng 11,08% so với tháng trước, giảm 42,32% so cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách thực hiện 49,15 tỷ đồng tăng 13,19%; so tháng trước, giảm 35,80% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 97,67 tỷ đồng, giảm 36,50%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 31,13 tỷ đồng, giảm 65,71% và bưu chính chuyển phát thực hiện 21,23 tỷ đồng, giảm 7,84% so cùng kỳ.

Ước năm 2021, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 2.642,05 tỷ đồng, giảm 23,39% so cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách thực hiện 591,84 tỷ đồng giảm 27,77%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.248,89 tỷ đồng, giảm 22,07%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 560,07 tỷ đồng, giảm 26,39% và bưu chính chuyển phát thực hiện 241,25 tỷ đồng, giảm 9,33% so cùng kỳ.

8. Các vấn đề xã hội

a) Tình hình đời sống dân cư

Năm 2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên cả nước trong đó có TP Cần Thơ; từ đợt dịch bùng phát lần thứ 4 (bắt đầu từ ngày 27/4) đã tác động mạnh đến đời sống người dân, nhất là lao động tự do, lao động thuộc ngành khách sạn, nhà hàng và du lịch. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các Ngành phải tạm dừng hoạt động sản xuất, hoặc hạn chế hoạt động để đảm bảo công tác an toàn phòng, chống dịch dẫn đến người lao động thiếu hoặc mất việc làm, thu nhập giảm sút, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống vật chất, tinh thần của người lao động. Mặc dù có những khó khăn, Thành phố đã triển khai các giải pháp quan trọng để khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội nhằm ổn định đời sống người dân. Ngoài ra, đã tập trung nguồn lực xây dựng và công nhận 7 xã nông thôn mới nâng cao, góp phần nâng cao mức sống nông thôn.    

Tình hình đời sống cán bộ, công chức, viên chức; công nhân, người lao động.  Về đời sống của cán bộ, công chức, viên chức. Tuy không ảnh hưởng đến thu nhập nhưng giá tiêu dùng nhất là giá các mặt hàng thiết yếu tăng cao đã ảnh hưởng đến đời sống cảu cán bộ, công viên chức.

Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên địa bàn đến ngày 10/7/2021 đã tác động mạnh đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, để đảm bảo công tác an toàn phòng, chống dịch theo quy định, phương án “3 tại chỗ”, “Một cung đường, hai điểm đến”, một số doanh nghiệp đã phải sắp sếp lại phương án sản xuất và sắp xếp lao động, một số doanh nghiệp không đủ điều kiện để sản xuất, đã ảnh hưởng đến đời sống của người lao động, đặc biệt là công nhân lao động đang thuê trọ ở các khu nhà trọ trong các khu vực bị phong tỏa, khu cách ly, người lao động trong các doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa, nhỏ và siêu nhỏ, người lao động trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực du lịch, dịch vụ, vận tải, cơ sở giáo dục ngoài công lập...

Nhằm chia sẻ một phần khó khăn với người lao động, Liên đoàn Lao động thành phố đã triển khai nhiều hoạt động “tương thân, tương ái” với sự tích cực, sáng tạo của cán bộ Công đoàn đã không ngại nắng, mưa, dịch, bệnh đến tận các khu nhà trọ, khu vực phong tỏa để hỗ trợ kịp thời tiền trợ cấp khó khăn, nhu yếu phẩm cho CNLĐ, quà Trung thu cho con CNLĐ. Tính từ ngày 12/7/2021 đến nay, Công đoàn thành phố đã vận động xã hội hóa hỗ trợ 34.541 phần quà với tổng số tiền 11,022 tỷ  đồng (trong đó tiền mặt 4,126 tỷ đồng, số tiền được ước tính từ quà, hiện vật là 6,896 tỷ đồng).

Thực hiện chủ trương của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, LĐLĐ thành phố cùng các cấp công đoàn đã trích từ nguồn tài chính công đoàn tích lũy chi các gói hỗ trợ trên 12,767 tỷ đồng.

 Tình hình đời sống nông dân tại địa phương

 Trong năm 2021, ngành Nông nghiệp thành phố Cần Thơ tập trung chỉ đạo thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản kết hợp nhiệm vụ trọng tâm tăng cường công tác phòng, chống dịch Coivd-19. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đẩy mạnh thực hiện dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững thành phố Cần Thơ, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, VietGAHP trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, tổ chức sản xuất theo chuỗi, gắn với chế biến và xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, tạo nhiều mối liên kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giúp nông dân cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

Sản lượng lúa năm 2021 so với năm 2020 tăng 1,44%, bằng 20.046 tấn; ước thu nhập của nông dân từ tăng thêm từ cây Lúa tăng khoảng 1.441,81 tỷ đồng; sản lượng cây hàng năm tăng 1,04% so cùng kỳ 2020; sản lượng cây ăn quả tăng 17,2% so cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố có 477 ha diện tích tưới phun, tưới tiết kiệm trên cây ăn quả đã làm giảm chi phí lao động từ 20-30%; tăng năng suất cây trồng từ 10-15% so với áp dụng tưới thông thường từ đó giảm chi phí sản xuất khoảng 20-25 triệu đồng/ha so với phương pháp tưới truyền thống.

Về chăn nuôi, sản phẩm thịt heo xuất chuồng trong năm so cùng kỳ 2021 tăng 21,53%; sản lượng thịt bò xuất chuồng trong năm ước tăng 18,91% so cùng kỳ năm 2020; sản lượng sữa tươi trong kỳ tăng 37,60% so cùng kỳ; sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng trong năm ước 9,03%;…đã tăng thêm thu nhập cho người nông dân so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản năm 2021 giảm 3,44% so với cùng kỳ năm 2020 đã ảnh hưởng đến thu nhập, do giữa tháng 7 đến cuối tháng 9 phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg và 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên toàn thành phố nên tình hình tiêu thụ bị gián đoạn do các công ty chế biến cũng như thương lái thu mua bị gián đoạn, có lúc tạm ngưng thu mua gần 2 tháng liên tục hoặc mua với số lượng rất ít nên một số hộ nuôi chưa mạnh dạn thực hiện việc thả giống cho vụ nuôi mới.

Tình hình đời sống nông dân tại các xã, huyện được công nhận chuẩn Nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới nâng cao (viết tắt là NTMNC) không chỉ là nhiệm vụ mà đã trở thành phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp các vùng quê của Cần Thơ. Năm 2020, TP Cần Thơ hoàn thành vượt kế hoạch 3 xã NTMNC. Tiếp nối thành quả trên, năm 2021, các địa phương của TP Cần Thơ quyết tâm củng cố, nâng cao chất lượng các tiêu chí, hướng tới xây dựng NTMNC, nông thôn mới kiểu mẫu.

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết số 26), thành phố Cần Thơ đã đạt được những kết quả khá toàn diện. TP Cần Thơ dẫn đầu khu vực ĐBSCL trong xây dựng nông thôn mới (NTM). Đến cuối năm 2020, thành phố có 36/36 xã và 4/4 huyện hoàn thành xây dựng nông thôn mới, sớm hơn 1 năm so với kế hoạch; năm 2021 công nhận 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao. Hiện nay, thành phố có 17/36 xã nông thôn mới nâng cao. Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố vững chắc đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân khu vực nông thôn.

b) Công tác an sinh xã hội

Công tác giảm nghèo: Thực hiện Nghị quyết của Thành ủy Cần Thơ đến cuối năm 2021 tỷ lệ hộ nghèo thành phố giảm còn 0,30%. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp các Sở, ngành thành phố và Ủy ban nhân dân các quận, huyện triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ người nghèo, đến cuối năm 2021 có 123 hộ nghèo vươn lên thoát nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo của thành phố xuống còn 0,25% tương đương 913 hộ vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, với việc triển khai các chính sách:

Đã hỗ trợ nhân rộng 27 mô hình giảm nghèo, có 140 hộ nghèo tham gia với kinh phí 2.119 triệu đồng; cung cấp tín dụng ưu đãi cho 21.742 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo vay số tiền 1.340.384 triệu đồng; trong đó có 4.065 lượt hộ nghèo được vay 93.433 triệu đồng, 6.864 lượt hộ cận nghèo vay 207.052 triệu đồng, 10.813 lượt hộ mới thoát nghèo vay 1.039.899 triệu đồng để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện mức sống, có điều kiện vươn lên thoát nghèo.

Cấp thẻ bảo hiểm y tế 156.136 cho người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo người dân tộc thiểu số vùng khó khăn, người đang sinh sống trên địa bàn đặc biệt khó khăn; thực hiện đầy đủ chính sách hỗ trợ giáo dục cho khoảng 1.870 học sinh, sinh viên nghèo như: hỗ trợ chi phí học tập, miễn giảm học phí cho học sinh nghèo, kinh phí 628 triệu đồng. Xây dựng 500 căn nhà đại đoàn kết từ nguồn vận động xã hội hóa của các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể; tổ chức thực hiện tuyên truyền, tư vấn và trợ giúp pháp lý miễn phí cho 100% hộ nghèo có nhu cầu trên địa bàn thành phố theo chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo. Trợ cấp tiền điện hằng quý cho 13.159 hộ nghèo về thu nhập và hộ chính sách xã hội số tiền 8.052 triệu đồng. Trợ cấp tết Nguyên đán năm 2021 cho 1.036 hộ nghèo, mỗi hộ 900.000 đồng/hộ số tiền 932,4 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch năm. 

Triển khai thực hiện chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố cho 62 hộ dân tộc thiểu số được hỗ trợ, kinh phí thực hiện 3.120 triệu đồng.

Nhân rộng mô hình giảm nghèo bền vững: Các quận, huyện và tổ chức đoàn thể tiếp tục duy trì nhân rộng các mô hình sinh kế/giảm nghèo hiệu quả trên địa bàn, dự kiến có 48 mô hình được thực hiện với kinh phí 4.445 triệu đồng, trong đó nguồn vốn tín dụng ưu đãi 3.043 triệu đồng và vận động cộng đồng 1.402 triệu đồng.

Bảo trợ xã hội: Trợ cấp thường xuyên cho 504.141 lượt đối tượng bảo trợ xã hội ở ngoài cộng đồng với tổng kinh phí hơn 220,675 tỷ đồng; cấp 43.641 thẻ BHYT cho đối tượng bảo trợ xã hội ở ngoài cộng đồng với tổng kinh phí hơn 13,645 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 3.562 trường hợp với tổng số tiền 22,05 tỷ đồng.

Nuôi dưỡng, chăm sóc tại 02 Trung tâm trực thuộc Sở 699 đối tượng với tổng kinh phí hơn 8,586 tỷ đồng. Trong đó, 505 người tâm thần; 92 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; 102 đối tượng khác.

Chi Trợ cấp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021 cho 42.322 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền hơn 38 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thực hiện chính sách hỗ trợ các dịch vụ xã hội cơ bản, như: hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, lắp đồng hồ nước, trợ giúp về pháp lý. Ngoài ra, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể các cấp còn vận động nguồn lực ngoài cộng đồng hỗ trợ tết Nguyên đán cho hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn với kinh phí 49.890 triệu đồng.

Thực hiện chính sách với người có công: Toàn thành phố hiện có 5.756 đối tượng, Người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi thường xuyên với tổng kinh phí hơn 10 tỷ đồng; trong đó có 32 Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, tất cả các Mẹ đều đã được các đơn vị nhận phụng dưỡng. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 74 năm ngày Thương binh - liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2021). Phối hợp các quận, huyện xây dựng, sửa chữa và bàn giao 49/49 căn nhà tình nghĩa (trong đó: xây mới là 25/25 căn, sửa chữa là 24/24 căn). Tổ chức thành công Lễ trao tặng Huân chương Độc lập cho 56 gia đình có nhiều liệt sĩ.

Đã bàn giao 27 căn nhà và sửa chữa 24 căn nhà tình nghĩa; trợ cấp khó khăn với số tiền là 125 triệu đồng và cấp gia hạn 14.012 thẻ BHYT cho Người có công với cách mạng; trợ cấp dụng cụ chỉnh hình cho 256 trường hợp với tổng kinh phí 832.390 triệu đồng; trợ cấp ưu đãi giáo dục cho 57 trường hợp là con của Người có công với cách mạng với số tiền là 972 triệu đồng. Quyết định thực hiện chế độ điều dưỡng tại gia đình cho 2.588 đối tượng là Người có công với cách mạng với tổng kinh phí 2.872.680.000 đồng.

Nhân dịp tết Nguyên đán và Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/2021) cấp phát quà Chủ tịch Nước và của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhân dịp tết Nguyên đán cho gia đình Người có công với cách mạng tổng số 19.380 suất, với tổng số tiền trên 13,326 tỷ đồng. Cấp phát quà Chủ tịch Nước và của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 74 năm ngày Thương binh Liệt sĩ với 16.709 suất, tổng số tiền là 12 tỷ 283 triệu đồng. Tổ chức 09 đoàn do Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ đến thăm và tặng quà cho gia đình người có công với cách mạng với 1.440 phần quà (500.000 đ/phần quà) cho mỗi đợt nhân dịp tết Nguyên đán và ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 với tổng kinh phí 720 triệu động.

 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đối với người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố Cần Thơ (tại Nghị quyết số 68/NQ-CP)

Tính đến ngày 26/12/2021, thành phố đã phê duyệt hỗ trợ 3.720 người sử dụng lao động, kinh phí trên 1.018 tỷ đồng; đã chi hỗ trợ cho 3.720 người sử dụng lao động, với tổng kinh phí trên 902 tỷ đồng, đạt 90,05% so với số lượng được duyệt, cụ thể:

* Nhóm chính sách Bảo hiểm xã hội (gồm các chính sách: 1, 2, 3 theo mục II, Nghị quyết số 68/NQ-CP):

Chính sách 1, 2 (Giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất): đã hỗ trợ 3.692 người sử dụng lao động với 94.793 người lao động được giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất với số tiền trên 45 tỷ đồng và chính sách 3 (Hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động): triển khai mở các lớp đào tạo nghề, duy trì việc làm cho người lao động, trong đó có lực lượng lao động là người Cần Thơ về từ vùng dịch.

* Nhóm chính sách hỗ trợ tiền mặt (gồm các chính sách: 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12 theo mục II, Nghị quyết số 68/NQ-CP): đã phê duyệt hỗ trợ 416.339 lượt người, kinh phí trên 860 tỷ đồng; đến nay đã chi hỗ trợ cho 362.544 lượt người, kinh phí trên 744 tỷ đồng, đạt 87,39% so với số lượng được phê duyệt.

Chính sách 12 (Hỗ trợ lao động tự do theo Nghị quyết số 52/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố)

+ Hỗ trợ người bán lẻ xổ số lưu động: 09/09 quận, huyện đã được phê duyệt hỗ trợ lần 1 (mức 1.200.000 đồng/người) và lần 2 (mức 800.000 đồng/người); Đến nay đã chi hỗ trợ 7.582/8.111 người với kinh phí trên 15,1 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 93,48% (số chưa chi là các trường hợp trùng danh sách, không còn ở địa phương,...).

+ Hỗ trợ 04 nhóm đối tượng còn lại: 09/09 quận, huyện được phê duyệt hỗ trợ 340.149 người, kinh phí trên 680 tỷ đồng; đã chi hỗ trợ 308.465 người, kinh phí trên 616 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 90,69%.

* Nhóm chính sách vay vốn (chính sách 11 theo mục II, Nghị quyết số 68/NQ-CP): đã giải ngân cho 28 doanh nghiệp để trả lương ngừng việc, phục hồi sản xuất cho 29.313 lượt người lao động với số tiền cho vay là 112 tỷ 707 triệu đồng.

c) Giáo dục và đào tạo

Ngành giáo dục đã chủ động tổ chức cho học sinh ôn tập, học tập tại nhà trong thời gian thực hiện giãn cách phòng chống dịch Covid-19 bằng nhiều hình thức qua internet, qua truyền hình…triển khai thực hiện các biện pháp tuyên truyền, tăng cường vệ sinh trường lớp, đảm bảo an toàn cho học sinh; tinh giản nội dung dạy học cấp tiểu học, trung học theo Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Triển khai các kỳ thi, cuộc thi theo kế hoạch, đã hoàn thành công tác tuyển sinh lớp 10 năm học 2021 - 2022, tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 an toàn, đúng quy định. Trong năm 2021, ước công nhận thêm 09 trường đạt chuẩn quốc gia (trong 328 trường đã được công nhận, có 168 trường đã hết thời hạn công nhận kể từ ngày ra quyết định); tính lũy kế đến hết năm 2021, thành phố có tổng cộng 330/444 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 74,32%. Tăng cường sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có; xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm bổ sung thiết bị dạy học thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 theo lộ trình, đảm bảo thiết thực, hiệu quả.

d) Y tế và chăm sóc sức khỏe người dân

Để phòng chống dịch, thành phố Cần Thơ đã thực hiện giãn cách xã hội theo tinh thần Chỉ thị 16/CT-TTg. Việc thực hiện giãn cách xã hội đã giúp hạn chế sự lây lan dịch bệnh, thành phố đã triển khai có hiệu quả nhiều biện pháp phòng chống dịch như xét nghiệm cộng đồng vừa diện rộng, vừa trọng tâm trọng điểm, tổ chức cách ly, khoanh vùng rộng, phong tỏa diện hẹp, thu dung điều trị các ca F0 kịp thời, giảm thiểu tối đa tỷ lệ tử vong… Sau hơn 02 tháng thực hiện giãn cách xã hội, thành phố Cần Thơ đã từng bước kiểm soát dịch Covid-19 trên địa bàn. Từ 12 giờ, ngày 30/9/2021, toàn thành phố Cần Thơ đã giảm mức độ giãn cách xã hội, chuyển trạng thái thực hiện theo Chỉ thị số 15/CT-TTg.

Hiện trên địa bàn có 13 cơ sở xét nghiệm khẳng định SARS-CoV-2 với năng lực xét nghiệm hơn 8.200 mẫu đơn/ngày và 39 cơ sở xét nghiệm nhanh SARS-CoV-2. Được sự hỗ trợ của Tổ Công tác Bộ Y tế, từ ngày 09/8/2021, Sở Y tế đã tham mưu UBND thành phố triển khai nhiều đợt xét nghiệm sàng lọc cộng đồng và trọng điểm trên địa bàn, kịp thời bóc tách F0 ra khỏi cộng đồng. Tính đến ngày 14 tháng 12 năm 2021, thành phố đã thực hiện xét nghiệm tầm soát test nhanh trên 2,5 triệu lượt người và xét nghiệm PCR gần 1,5 triệu lượt người.

Thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” và căn cứ hướng dẫn của Bộ Y tế, ngành Y tế đã thực hiện đánh giá cấp độ dịch thành phố để áp dụng các biện pháp thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, góp phần khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại được khôi phục đã xuất hiện tình trạng lơ là, chủ quan cộng thêm việc di chuyển tự do của người dân là cơ hội lớn cho dịch Covid-19 tái bùng phát mạnh. Thành phố đã triển khai nhiều biện pháp để thích ứng như thực hiện cách ly F0, F1 tại nhà, thực hiện xét nghiệm trọng tâm vào các trường hợp sốt, ho, khó thở… và các đối tượng nguy cơ cao; tăng cường nhân lực, trang thiết bị, thuốc, vật tư y tế cho công tác điều trị Covid-19.

Tính đến ngày 14/12/2021, có 1.924.435 liều vắc xin phòng Covid-19 được tiêm cho người dân trên địa bàn (đạt 91% số liều được nhận), tỷ lệ người từ 18 tuổi trở lên được tiêm đạt 97,35% (trong đó 92,62% tiêm đủ 02 mũi); tỷ lệ trẻ từ 12-17 tuổi được tiêm đạt 92,3%; hiện đang triển khai tiêm mũi 2 cho trẻ 12-17 tuổi, dự kiến đến cuối năm 2021 sẽ hoàn thành. Lũy tích từ 01/01/2021 đến ngày 14/12/2021, ghi nhận 38.957 ca bệnh, trong đó có đã điều trị khỏi 22.266 trường hợp (57,2%), 337 ca tử vong (8,65%); có 17.286 người đã hoàn thành cách ly tập trung; 153.237 người đã hoàn thành cách ly tại nhà.

Theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, bạch hầu… chỉ đạo kịp thời, không để dịch bệnh bùng phát. Công tác phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục được triển khai phù hợp tình hình dịch bệnh Covid-19. Duy trì thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; tiếp tục triển khai áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị, đặc biệt ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện khám chữa bệnh từ xa, đặt lịch khám trực tuyến nhằm giảm thời gian chờ đợi cho người bệnh và đáp ứng yêu cầu phòng chống dịch Covid-19. Thực hiện kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong khám chữa bệnh. Hiện nay 100% xã phường thị trấn có cán bộ y học cổ truyền; 100% các bệnh viện trên địa bàn đảm bảo xử lý chất thải y tế theo quy định. Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm được chú trọng, không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn.  

e) Văn hóa, thể dục, thể thao

 Tuyên truyền cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao du lịch kỷ niệm ngày lễ, sự kiện của đất nước và thành phố đảm bảo về hình thức và nội dung. Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; công tác gia đình và tiêu chuẩn xây dựng người Cần Thơ “Trí tuệ - Năng động - Nhân ái - Hào hiệp - Thanh lịch”, đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố được triển khai có hiệu quả; việc xây dựng các thiết chế văn hóa, bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các di tích, lịch sử văn hóa được quan tâm.

Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa được chú trọng. Tổ chức phục vụ 108.520 lượt khách tham quan tại Bảo tàng thành phố, Trạm vệ tinh ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam tại Cần Thơ và các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn thành phố, đạt 54,3% kế hoạch năm. Thực hiện hồ sơ khoa học của 346 hiện vật, vượt 73% kế hoạch năm. Hệ thống thư viện công cộng toàn thành phố bổ sung 34.253 bản sách mới, vượt 18,1% KH; phục vụ 3,091 triệu lượt bạn đọc, vượt 3,9%.

Phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao được tập trung phát triển, chỉ tiêu thực hiện số người tập luyện TDTT thường xuyên: 422.773 người, đạt 99,2% kế hoạch năm; số gia đình thể thao: 92.153 hộ, đạt 98,5% kế hoạch năm, số câu lạc bộ TDTT: 1.274 CLB, đạt 98% kế hoạch năm. Tổ chức thành công Lễ phát động Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” giai đoạn 2021 - 2030 kết hợp Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân. Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp tiến tới Đại hội TDTT thành phố Cần Thơ lần thứ IX năm 2022. Cử 52 lượt huấn luyện viên 255 lượt VĐV (132 nữ) tham dự 19 giải, đạt 89 huy chương các loại, đạt 22,19% kế hoạch năm. Xây dựng Đề án “Phát triển thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp đến năm 2035”.

f) Tình hình tai nạn giao thông

Tình hình trật tự, an toàn giao thông đã có nhiều chuyển biến tích cực, hiệu lực quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông được nâng lên; tai nạn giao thông giảm 02 tiêu chí so với cùng kỳ. Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông thành phố Cần Thơ tình hình tai nạn giao thông (từ ngày 15/11/2021 đến ngày 14/12/2021) trên địa bàn thành phố đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 06 người, bị thương 02 người. Năm 2021, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 47 vụ tai nạn giao thông, làm chết 50 người, bị thương 9 người; so với cùng kỳ năm 2020, số vụ giảm 20, số người chết giảm 19 người, số người bị thương giảm 01 người.

9. Một số giải pháp chủ yếu

Tiếp tục thực hiện mục tiêu vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện hiệu quả hơn cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Tập trung thực hiện các giải pháp hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; tăng cường thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa các địa phương, liên kết ngành nhằm phát triển các vùng nguyên liệu trong nước để chủ động hơn các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh.

Phục hồi các chuỗi sản xuất, cung ứng; cơ cấu lại, phát triển hiệu quả các ngành, lĩnh vực quan trọng bị tác động trực tiếp bởi dịch Covid-19; chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, những sản phẩm có lợi thế so sánh, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng cao, có thị trường tiêu thụ.

Tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về thu hút đầu tư ngoài ngân sách, thu hút có chọn lọc các dự án có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao, đảm bảo quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư đối với các lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và giám định tư pháp; khuyến khích áp dụng đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

Thực hiện tốt các chính sách an sinh, xã hội, công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là trong điều kiện đời sống của các đối tượng yếu thế, các đối tượng chính sách gặp nhiều khó khăn do dịch trong thời gian qua./.

CỤC THỐNG KÊ TP. CẦN THƠ

 Các biểu số liệu:

01. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Xem
02. Chi ngân sách địa phương Xem
03. Sản xuất nông nghiệp Xem
04. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Xem
05. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Xem
06. Số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới Xem
07. Vốn đăng ký và vốn bổ sung của dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới Xem
08. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ Xem
09. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Xem
10. Vận tải hành khách và hàng hóa Xem


Các tin khác
Tình hình KT-XH tháng 06 năm 2022 - 25/06/2022
Tình hình KT-XH tháng 05 năm 2022 - 07/06/2022
Tình hình KT-XH tháng 04 năm 2022 - 25/04/2022
Tình hình KT-XH tháng 03 năm 2022 - 25/03/2022
Tình hình KT-XH tháng 02 năm 2022 - 24/02/2022
Tình hình KT-XH tháng 01 năm 2022 - 25/01/2022
Tình hình KT-XH tháng 11 năm 2021 - 25/11/2021
Tình hình KT-XH tháng 10 năm 2021 - 29/10/2021
Tình hình KT-XH tháng 09 năm 2021 - 27/09/2021
Tình hình KT-XH tháng 08 năm 2021 - 26/08/2021