.:Chào mừng quý khách đã đến với Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP.Cần Thơ - Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Trang chủ
Giới thiệu>
Tin tức sự kiện>
Lĩnh vực chuyên môn>
Ấn phẩm thống kê
Văn bản pháp lý
Văn bản của thành phố
Văn bản của Cục
Văn bản của Ngành
Văn bản của Nhà nước
Liên hệ
Sơ đồ
Tin tức & Sự kiện
Tình hình KT-XH tháng 11 năm 2019 - 26/11/2019

 I. CÔNG NGHIỆP

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tháng 11 tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 10,53% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,05%; ngành phân phối điện tăng 32,16%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 2,46%.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước thực hiện 11 tháng tăng 7,89% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 7,86%; ngành phân phối điện tăng 9,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 4,57%. Trong đó, có một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá như: Phi lê đông lạnh tăng 23,95%; tôm đông lạnh tăng 18,69%; thức ăn cho thủy sản tăng 5,32%; bia tăng 10,89%; bao bì dệt tăng 26,13%; quần áo tăng 4,11%; dược phẩm tăng 19,45%; bao bì và túi nhựa tăng 14,12%; xi măng tăng 13,36%; đinh vít tăng 6,39%; điện tăng 9,64%; rác thải tăng 9,81%. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh sản xuất vào những tháng cuối năm để hoàn thành các hợp đồng ký kết và kế hoạch đã đề ra. Mặt khác, các doanh nghiệp luôn nắm bắt cơ hội tốt để ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất trong sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp, đây là lợi thế nâng cao tính cạnh tranh và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Song song đó, hiện nay nhiều doanh nghiệp đã không ngừng hoàn thiện, thỏa mãn nhu cầu tốt hơn và hiệu quả hơn giúp cho người tiêu dùng luôn lựa chọn sản phẩm của chính mình sản xuất ra. Từ đó uy tín của doanh nghiệp càng cao, khả năng tiêu thụ sản phẩm càng lớn và dần dần khẳng định thương hiệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm trên thương trường. Hơn nữa, doanh nghiệp đã mạnh dạn đổi mới công nghệ, trình độ kỹ thuật, tập trung phát triển nguồn nhân lực, chú trọng nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, tập trung phát triển sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, do đó doanh nghiệp đã tìm kiếm được nhiều hợp đồng mới nên đã đẩy mạnh sản xuất góp phần duy trì tăng trưởng ổn định sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố.

Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng còn một số khó khăn hạn chế trong quá trình sản xuất kinh doanh như: Giá cả một số mặt hàng xuống thấp, tiêu thụ chậm do nhiều doanh nghiệp thiếu vốn để thu mua nguyên liệu dự trữ. Ngoài ra, một số doanh nghiệp khác gặp khó về tài chính, khó khăn trong vấn đề lưu kho, lưu bãi... Đồng thời hàng hóa kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái vẫn chưa kiểm soát được, giá vật tư đầu vào tăng đột biến, cụ thể do điện nước tăng, nguyên vật liệu sản xuất tăng, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, tình hình ứng dụng công nghệ tại các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chưa được hoàn thiện đôi khi gây ra tình trạng lãng phí, không sử dụng hết công suất của máy móc, thiết bị làm cho giá thành cao, sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 11 tăng 0,88% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng chỉ số tiêu thụ tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Sản xuất đồ uống tăng 6,91%; sản xuất sản phẩm dệt tăng 23,62%; sản xuất trang phục tăng 5,77%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,82%; in ấn các loại tăng 25,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,72%; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 19,79%; sản xuất kim loại tăng 5,50%; sản xuất sản phẩm từ kim loại tăng 6,43%. Nguyên nhân tăng là do cuối năm các doanh nghiệp cố gắng đẩy nhanh tiêu thụ các mặt hàng nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm đặc biệt là mặt hàng thực phẩm, đồ uống, quần áo, in ấn, hàng gia dụng, trang trí nội thất… Ngoài việc thúc đẩy sản xuất tiêu thụ hàng hoá nhiều doanh nghiệp không ngừng quan tâm đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, luôn có những hướng đi hay, những đề xuất có hiệu quả giúp cho quá trình tiêu thụ phát triển lâu dài và bền vững.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/11/2019 là 68,87% so với tháng cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2019 tăng 0,25% so với tháng trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước không tăng, doanh nghiệp Ngoài Nhà nước tăng 0,30% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không tăng. Số lao động tại các doanh nghiệp vẫn mức bình ổn, không có biến động nhiều, duy trì ở mức bình thường.

 

         II. NÔNG LÂM NGHIỆP - THUỶ SẢN

                1. Nông nghiệp

             1.1. Trồng trọt

                    - Cây lúa: 

           Vụ Thu đông 2019: Diện tích lúa toàn thành phố ước đạt 64.248 ha, đạt 107,58% so với kế hoạch (KH: 59.720 ha); thấp hơn 9.823 ha so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Do giá lúa đầu vụ thấp, nên người dân đã chủ động xả lũ nhằm tạo phù sa cho đất; Tập trung chủ yếu ở huyện Vĩnh Thạnh. Các giống lúa chất lượng cao được nông dân ưa chuộng tiếp tục gieo sạ như: OM 5451: 71% so với diện tích gieo trồng, OM 4218: 2%, IR 50404: 19%, Jasmine 85: 1%,... và các giống khác 6%.

Đến nay đã thu hoạch dứt điểm vụ lúa Thu đông, năng suất gieo trồng ước là 51,28 tạ/ha, so 2018 tăng 2,73% bằng 1,36 tạ. Sản lượng ước là 329.464 tấn, giảm so cùng kỳ 10,90% bằng 40.289 tấn.

Nguyên nhân năng suất tăng và sản lượng giảm:

Do thời tiết từ đầu vụ đến lúc thu hoạch thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển cây lúa. Diện tích xuống giống của các quận, huyện đầu nguồn đều nằm trong đê bao an toàn, nên bà con luôn chủ động được lượng nước cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa.

Bà con nông dân thực hiện việc chọn giống tốt, bón phân cân đối và áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, giúp cây lúa chắc khỏe, ít bị đổ ngã và tiêu thoát nước phù hợp nên có nhiều thuận lợi trong thu hoạch.

Sản lượng lúa giảm do diện tích gieo trồng vụ Thu đông giảm 9.823 ha.

                 Hiện nay, giá lúa khô giảm 100đ/kg đối với giống các OM và 400đ/kg đối với giống IR50404 so với tháng trước cụ thể như sau: giá lúa chất lượng cao hạt dài OM từ 6.000 - 6.100đ/kg, lúa IR từ 5.200 - 5.300đ/kg. Nhìn chung giá lúa Thu đông có giảm 400 - 500đ/kg so với cùng kỳ năm trước. Hiện nguồn cung lúa gạo hàng hóa đã giảm mạnh so với tháng trước vì phần lớn nông dân đã thu hoạch và tiêu thụ hết lượng lúa vụ Thu đông 2019, còn lúa vụ Đông xuân 2020 mới bắt đầu gieo sạ. Dự báo giá lúa có nhiều khả năng tăng. Thời điểm này, tiểu thương và doanh nghiệp cũng tăng cường thu mua các loại lúa gạo ngon, lúa thơm và nếp để chuẩn bị phục vụ thị trường dịp lễ, nhất là Tết Nguyên đán 2020.

Đến nay, trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện có 124 cơ sở, hộ sản xuất và cung ứng lúa giống với năng lực cung ứng 52.700 tấn/năm. Thành phố hiện đang triển khai đề án “Xây dựng hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa đạt tiêu chuẩn chất lượng tại thành phố Cần Thơ” để nâng cao năng lực cung ứng giống lúa, đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn theo qui định.

Ngành Nông nghiệp tích cực vận động nông dân đảm bảo thời gian giãn cách giữa 2 vụ gieo sạ lúa tối thiểu 3 tuần và tuân thủ theo nguyên tắc “gieo tập trung, đồng loạt trên từng khu vực, từng cánh đồng”. Khuyến cáo nông dân sản xuất các giống có tính chống chịu rầy nâu, thích ứng điều kiện thổ nhưỡng, tình hình thời tiết, có phẩm chất gạo tốt và theo nhu cầu của thị trường, với các giống chủ lực như: Jamine 85, Đài Thơm 8, OM 4218, OM 5451… Tập trung hướng dẫn nông dân sản xuất lúa theo kỹ thuật “1 Phải 5 Giảm” cần chú trọng phải sử dụng giống xác nhận và đảm bảo mật độ gieo sạ theo khuyến cáo: Lượng giống sử dụng không quá 80 kg/ha đối với sạ hàng và không quá 100 kg/ha đối với sạ tay.

                   Lúa Đông xuân 2020, đã xuống giống khoảng 52.985 ha đạt 66% so với kế hoạch (79.750 ha), tập trung tại huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và quận Thốt Nốt,... lúa chủ yếu đang ở giai đoạn mạ. Tổng diện tích nhiễm dịch hại 61 ha tăng 61 ha so với cùng kỳ vụ Đông xuân 2019, chủ yếu tăng diện tích nhiễm ốc bươu vàng, bọ trĩ, chuột.      

            - Cây hàng năm

Đến nay, diện tích gieo giống cây hàng năm khác vụ Đông xuân 2020 ước đạt 854 ha nhanh hơn cùng kỳ 520 ha. Bà con tiếp tục chăm sóc và thu hoạch diện tích các nhóm cây hàng năm đã gieo trồng trong vụ mùa 2019, năng suất ổn định so với cùng kỳ.

                   - Cây lâu năm

Diện tích cây ăn quả ước khoảng 20.125 ha, chiếm 92,95% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 1.834 ha, bằng 10,03% so cùng kỳ. Chủ yếu tăng ở nhóm cây nhiệt đới, cận nhiệt đới tăng 8,67%. Cây mận 355 ha; sầu riêng tăng 383 ha; Na (mãng cầu) tăng 164 ha;...

Nguyên nhân:

Thời gian qua, các quận, huyện trên địa bàn thành phố được các cấp chính quyền, ngành Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đầu tư đê bao khép kín bảo vệ vườn cây ăn quả, vận động nông dân cải tạo vườn tạp và đẩy mạnh chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa ngày càng bạc màu do hằng năm nước lũ về thấp làm cho chi phí sản xuất tăng cao trong khi năng suất lại giảm, chuyển sang phát triển vườn cây ăn trái để tăng hiệu quả kinh tế. Được trợ giá cây giống, nhiều hộ dân mạnh dạn chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao. Với định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện nay đã xây dựng được 12 vườn cây ăn trái kết hợp phát triển du lịch sinh thái, lợi nhuận cao gấp 1,5 - 2 lần so với trồng chuyên cây ăn trái và triển khai kế hoạch xây dựng vùng sản xuất vú sữa, xoài và nhãn theo tiêu chuẩn VietGAP, cụ thể: HTX Trường Thuận 1, Phong Điền 9,85 ha; Tổ liên kết sản xuất cây ăn trái VietGAP Phong Điền 7,55 ha cam, nhãn Ido, vú sữa; HTX Vú Sữa Trường Khương A 45,5 ha; HTX Xoài Lộc Hưng 30,5 ha; HTX Trái Cây Tân Lộc 15,8 ha nhãn; HTX nhãn Nhơn Nghĩa 19,1 ha; cá thể trồng cam tại Tân Thới, Phong Điền 01 ha;... và 06 mô hình tưới phun nước tự động trên cây ăn trái với 11,5 ha tại Ô Môn, Cái Răng, Thốt Nốt, Phong Điền...

Ngoài ra, các hộ dân còn tận dụng các phần diện tích bờ đê quanh ao nuôi thủy sản để trồng một số loại cây ăn quả để tăng thêm thu nhập.

Bên cạnh đó nhiều hộ dân trồng xen canh các loại cây ăn quả (mật độ như trồng trần) để thay thế các vườn cây bị già cỗi, năng suất thấp từ các năm trước, khi người dân chặt bỏ các vườn cây già cỗi, năng suất thấp để các cây trồng xen canh phát triển nên diện tích trồng mới, diện tích chưa cho sản phẩm và diện tích cho sản phẩm có sự biến động đáng kể.

Hiện nay toàn thành phố có 58 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn trái với năng lực cung ứng 650.000 cây/năm.

Diện tích nhãn nhiễm bệnh chổi rồng 191 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng 11 ha (tỷ lệ bệnh >40%), diện tích nhiễm trung bình 32 ha (tỷ lệ bệnh 20-40%), diện tích nhiễm nhẹ 148 ha (10-20%).

               1.2. Chăn nuôi 

Trong tháng, trên địa bàn thành phố không xảy ta dịch bệnh tai xanh ở heo, lở mồm long móng trên gia súcbệnh cúm gia cầm;

Trong tháng, dịch bệnh ASF đã xảy ra tại 35 hộ chăn nuôi heo thuộc 18 xã, phường, thị trấn (Ba Láng, An Thới, Trường Lạc, Thới Long, Phước Thới, Châu Văn Liêm, Thới Hòa, Thốt Nốt, Đông Thuận, Định Môn, Trường Xuân, Trường Xuân A, TT Thới Lai, Thới Thạnh, Thới Tân, Thới Xuân, Thạnh Phú, TT Cờ Đỏ) thuộc 06 quận/huyện (Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt, Thới Lai, Cờ Đỏ). Tổng đàn heo trong ổ dịch: 550 con. Số heo mắc bệnh: 357 con. Số chết: 196 con, số heo tiêu hủy là 407 con với khối lượng là 16.903 kg.

Tính lũy kế đến ngày 29/10/2019, dịch bệnh ASF đã xảy ra tại 2.371 hộ chăn nuôi heo thuộc 76 xã, phường, thị trấn thuộc 09 quận/huyện. Tổng đàn heo trong ổ dịch 65.136 con. Số heo mắc bệnh: 32.592 con. Số chết: 13.855 con, số heo tiêu hủy là 59.455 con với khối lượng là 3.376.033,6 kg. Số heo theo dõi tại 08 hộ chăn nuôi là 142 con.

                 a. Đàn Heo

Tổng đàn heo toàn TP có đến 01/10/2019 là 96.405 con. Trong đó, đàn heo thịt đạt 83.994 con, so với thời điểm 01/10/2018 giảm 28,01%; đàn heo nái đạt 8.158 con giảm so với cùng kỳ là 38.15%. Đàn heo đực giống có 62 con, so 1/10/2018 giảm 203 con. Nguyên nhân đàn heo biến động giảm như trên là do:Ảnh hưởng của dịch tả heo Châu Phi. Giá heo giống ở thời điểm hiện tại khoảng 1,5 triệu đồng cho một con heo giống ở khoảng 12-15kg là tương đối cao và sợ bị dịch bệnh tái phát nên người dân chưa mạnh dạn tái đàn.

Giá heo hơi hiện nay dao động ở mức từ 70.000đ/kg - 75.000đ/kg, tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giá heo hơi tăng nhanh vì nhiều tiểu thương, doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, trong khi nguồn cung heo hơi đang giảm mạnh vì bị thiệt hại do bệnh dịch tả heo châu Phi, phía người nuôi thì tạm thời chưa mạnh dạn tái đàn hoặc tận dụng chuồng trại nuôi vịt, gà,… Hiện nhiều trại chăn nuôi heo không còn heo để bán hoặc “neo” lại để chờ giá tăng thêm nên thương lái nâng giá thu mua lên để có hàng phục vụ giết mổ.

                 b. Đàn gia cầm

Tính đến 01/10/2019, đàn gia cầm TP Cần Thơ có 1.893 ngàn con, so cùng kỳ năm 2018 tăng 4,24%, bằng +77 ngàn con. Trong đó, đàn Gà đạt 614 ngàn con, so năm 2018 tăng 2,84%, bằng +18 ngàn con; đàn Vịt đạt 1.228 ngàn con, so năm 2018 tăng +6,25%, bằng +72 ngàn con.

Nguyên nhân:

Đàn gia cầm tăng chủ yếu ở đàn vịt và đàn gà thịt. Giá vịt ta hơi ở mức từ 45.000 - 50.000 đồng/kg, vịt xiêm 65.000 - 70.000 đồng/kg; Gà thả dao động khoảng 110.000-115.000 đồng/kg. Trong khi chi phí thức ăn, tấm cám ở mức khá cao, giá đầu ra của gia cầm hiện tại vẫn đảm bảo có lợi cho người nuôi.

                  2. Lâm nghiệp

Với vị trí địa lý của thành phố Cần Thơ hiện nay, diện tích trồng cây lâm nghiệp tập trung không còn, bà con nông dân chỉ trồng cây phân tán ở những vùng đất nhỏ lẻ ven các tuyến lộ giao thông nông thôn... tiếp tục chăm sóc các cây lâm nghiệp trồng phân tán đã trồng, đồng thời khai thác các cây đủ tiêu chuẩn phục vụ cho nhu cầu xây dựng, làm chất đốt trong đời sống....

                  3. Thủy sản

Trong tháng, diện tích nuôi thuỷ sản đã thu hoạch, được tiến hành cải tạo để thả nuôi cho vụ mới; Hiện nay giá cá tra giảm sâu ở mức 19.500 - 20.000 đ/kg, (cá từ 650 - 800g/con), với giá này người nuôi lỗ 2.500 - 4.000 đồng/kg (giá thành cá tra 22.000 - 24.000 đồng/kg). Giá giảm mạnh so với các tháng đầu năm vì người dân thả nuôi quá nhiều làm cung vượt cầu. Nhiều người cho rằng đây chỉ là diễn biến tạm thời bởi doanh nghiệp xuất khẩu cá tra đã chủ động nguồn cá nguyên liệu tự nuôi và nuôi liên kết với hộ dân, cộng với lượng hàng trong kho có sẵn, cơ bản đáp ứng hợp đồng xuất khẩu trong những tháng cuối năm, nên doanh nghiệp tạm thời hạn chế thu mua cá tra là nguyên nhân chính dẫn đến giảm giá cá tra. Với tình hình giá như trên người nuôi cá tra hiện nay rất khó khăn. Dự kiến diện tích nuôi cá tra có giảm nhưng không nhiều vì người nuôi có nhiều kinh nghiệm treo ao chờ giá.

Tình hình dịch hại trên thủy sản: Xuất hiện rải rác các bệnh gan thận mủ, phù đầu, xuất huyết trong các ao nuôi cá tra, đặc biệt các ao ương cá giống và ao mới thả giống, tỷ lệ hao hụt cá tra thả nuôi cao do khan hiếm con giống chất lượng không cao. Ngành Nông nghiệp cũng đã thông báo phát đồ điều trị cho cơ sở nuôi tham khảo xử lý, giảm thiểu hao hụt.

Đến nay, nông dân nuôi cá ruộng trong mùa lũ tại nhiều quận, huyện Thới Lai, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh… đã bước vào thu hoạch cá để chuẩn bị gieo sạ lúa Đông xuân 2020. Hiện giá cá chép nuôi ruộng loại 2-3 con/kg được nông dân bán cho thương lái với giá 14.000-15.000 đồng/kg, cá chép loại 4-5 con/kg chỉ có giá 12.000-13.000 đồng/kg; cá mè hoa loại 1-2 con/kg có giá 11.000 đồng/kg, loại nhỏ hơn có giá 9.000-10.000 đồng/kg. Theo nhiều nông dân nuôi cá ruộng, do giá cá ở mức thấp và năng suất cá không cao, nên nông dân chỉ có thể kiếm lời khoảng 300.000-500.000 đồng/1.000m2 trong mùa lũ năm nay. Nhìn chung nuôi cá trên  ruộng hiệu quả hơn so với làm lúa vụ 3 vì ít tốn nhân công, đồng ruộng được bồi đắp phù sa, giảm lượng phân bón cho lúa. Đặc biệt, những hộ dân nuôi cá ruộng trên diện tích lớn trong mùa lũ nếu kết hợp với thả nuôi vịt và trồng rau màu quanh bờ ruộng có thể đạt lợi nhuận 20-30 triệu đồng/ha trở lên.

Tình hình khai thác thủy sản: Do vào mùa mưa, số hộ khai thác tăng, nguồn thủy sản ngoài tự nhiên sinh sản nhiều và phát triển tốt, nên sản lượng khai thác trong tháng có phần tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, có 199 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ. Trong tháng đầu năm sản xuất ước được 35 triệu con cá tra giống cung cấp nhu cầu nuôi của thành phố và các tỉnh lân cận. Hiện nay, giá cá tra giống dao động từ 17.000 - 21.000 đồng/kg giảm khoảng 2.000 đồng/kg so với tháng trước, cá giống kích cỡ 2 cm chiều cao thân - mẫu 30 con/kg giá từ 17.000 - 18.000 đồng/kg, giá cá giống 1,5 cm chiều cao thân - mẫu 70 con/kg giá từ 20.000 - 21.000 đồng/kg.

Hiện tại các công ty chế biến thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ có khuynh hướng xây dựng vùng nuôi tập trung để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến. Ngành Nông nghiệp đang chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa thủy sản. Đến nay, có 02 HTX nuôi cá tra với diện tích 27 ha; 43 hộ tham gia liên kết sản xuất với các nhà máy với diện tích 144 ha; 20 vùng nuôi của 07 doanh nghiệp tham gia nuôi cá tra với diện tích 169,7 ha và tổng diện tích nuôi thủy sản ATTP theo tiêu chuẩn đạt 288 ha, bao gồm: 274 ha VietGAP (trong đó có 17 ha BMP+ASC) và 13,5 ha BAP+ASC.

               III. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

                Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ĐP quản lý

Ước thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 năm 2019 được 491,49 tỷ đồng. Trong đó vốn cân đối ngân sách thành phố thực hiện được 92,20 tỷ đồng, vốn trung ương h trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện được 12,67 tỷ đồng, vốn nước ngoài ODA 155,42 tỷ đồng, vốn xổ số kiến thiết 45,42 tỷ đồng, nguồn vốn khác thực hiện được 40,52 tỷ đồng, vốn ngân sách cấp huyện được 145,25 tỷ đồng.

Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 20194.236,93 tỷ đồng đạt 77,05% so kế hoạch năm đã điều chỉnh. Trong đó, vốn cân đối ngân sách thành phố là 898,53 tỷ đồng đạt 91,93% so kế hoạch năm. Vốn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu thực hiện được 302,62 tỷ đồng đạt 94,17% so kế hoạch năm. Vốn nước ngoài ODA thực hiện được là 934,07 tỷ đồng đạt 74,4% so kế hoạch năm. Nguồn vốn từ xổ số kiến thiết thực hiện 347,02 tỷ đồng đạt 55,72% so với kế hoạch năm, nguồn vốn khác thực hiện được 411,02 tỷ đồng đạt 70,24% so với kế hoạch năm, vốn ngân sách cấp huyện thực hiện 1.343,68 tỷ đạt 77,37% kế hoạch năm.

Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý từ đầu năm đến nay thực hiện thấp so với kế hoạch điều chỉnh, ngày 01 tháng 10 năm 2019, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ theo Quyết định số 2504/QĐ-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn đầu tư thực hiện về các nguồn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước do thành phố quản lý năm 2019.

Những tháng cuối năm 2019, các chủ đầu tư đang nhanh chóng triển khai các gói thầu mới (các hạng mục công trình thuộc dự án lớn), quyết liệt thực hiện các công trình có vốn kế hoạch cao để đảm bảo đúng tiến độ đề ra, cụ thể Dự án phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị, dự án Bệnh viện Ung Bướu thành phố, dự án đường tỉnh 922.

Tình hình thực hiện một số dự án chủ yếu trên địa bàn Thành phố:

Dự án phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị, Dự án có tổng mức đầu tư 7.339,33 tỷ đồng, được thực hiện bằng nguồn vốn ODA, do Ban quản lý ODA thành phố Cần Thơ làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 được giao 1.087,26 tỷ đồng (đã điều chỉnh). Dự tính thực hiện lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 11/2019, thực hiện được 3.312,2 tỷ đồng, đạt 45,13% tổng mức đầu tư toàn dự án, dự tính tháng 11 năm 2019 thực hiện được 120,93 tỷ đồng, chủ đầu tư đang quyết liệt thực hiện để đảm bảo tiến độ của công trình trong năm 2019.

Dự án mở rộng đường Quang Trung Cái Cui, dự án có tổng mức đầu tư là 1.097 tỷ đồng do Sở Giao thông vận tải thành phố làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 là 100 tỷ đồng. Dự tính thực hiện lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 11 năm 2019 ước thực hiện 1.090 tỷ đồng đạt 99,42% so với tổng mức đầu tư toàn dự án.

Dự án Bệnh viện Ung Bướu, dự án có tổng mức đầu tư là 1.727,94 tỷ đồng do Sở Y tế Cần Thơ làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 là 766,5 tỷ đồng (đã điều chỉnh). Dự tính thực hiện lũy kế từ đầu dự án đế cuối tháng 11 năm 2019 đạt 410,03 tỷ đồng đạt 23,73% so với tổng mức toàn dự án.

Dự án xây dựng Cầu Quang Trung, dự án có tổng mức đầu tư là 227,92 tỷ đồng do Ban ODA làm chủ đầu tư, hiện nay dự án đang hoàn thiện nền móng và chuẩn bị hợp long nhịp giữa. Dự kiến dự án sẽ hoàn thành vào tháng 04/2020 phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.          .

Dự án Đường tỉnh 922 (xây dựng và nâng cấp giai đoạn 1 từ quốc lộ 91B đến Cờ Đỏ), dự án có tổng mức đầu tư là 1.494,62 tỷ đồng do Ban quản lý dự án đầu tư thành phố làm chủ đầu tư, được thực hiện bằng nguốn vốn trái phiếu chính phủ, năm 2019 dự án được thực hiện bằng nguồn vốn của năm 2018 kéo dài là 670,71 tỷ đồng, tiến độ thực hiện đến tháng 11 năm 2019 đạt khoảng 10% tổng mức đầu tư toàn dự án, dự án vẫn còn vướng mắc khâu thỏa thuận đền bù giải phóng mặt bằng một số hộ dân thuộc huyện Thới Lai.

                IV. THƯƠNG MẠI

               1. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2019 tăng 1,02% so với tháng trước, tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,75% so với tháng 12 năm trước, bình quân 11 tháng so cùng kỳ tăng 1,65%. Từ giữa tháng 10, giá heo hơi lập đỉnh 60.000 đồng/kg, cao nhất trong 5 năm qua và tiếp tục tăng mạnh trong tháng 11 có nơi đạt ngưỡng gần 80.000 đồng/kg. Diễn biến phức tạp của giá heo hơi trong thời gian vừa qua là do sự thiếu hụt nguồn cung sau đợt dịch tả lợn châu Phi hoành hành, trong khi đó nhu cầu của thị trường đang tăng mạnh vào dịp cuối năm, thêm vào đó là do sự chênh lệch giữa giá heo hơi của Trung Quốc với giá trong nước cao, nên nhiều thương lái thu gom hàng xuất sang Trung Quốc làm nguồn cung cho tiêu thụ trong nước càng thiếu hụt, vì vậy đã đẩy giá heo hơi trên địa bàn tăng cao, giá thịt heo tại các chợ đã tăng khoảng 20-25% so với tháng trước. Giá thịt heo tăng mạnh đã kéo theo sự tăng giá của một số sản phẩm, dịch vụ như thịt bò, thịt gia cầm, thủy sản (thực phẩm thay thế thịt heo), thịt chế biến, dịch vụ ăn uống. Đây là nguyên nhân chính tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2019 tăng so với tháng trước.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có:

+ 03 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng với mức tăng từ 0,08% đến 3,10% so với tháng trước, gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,10% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 7,20%, so với tháng 12 năm trước tăng 7,14%;  Đồ uống và thuốc lá tăng 0,18% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,77%, so với tháng 12 năm trước tăng 1,77%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08% so với tháng trước, tăng 1,38% so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 1,38% so với tháng 12 năm trước.

+ 05 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm từ 0,01% đến 0,87% so tháng trước, gồm: May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,17% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,11%, so với tháng 12 năm trước tăng 0,25%; Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,08% so với tháng trước, tăng 1,24% so với tháng cùng kỳ năm trước, tăng 1,34% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%, tăng 2,36% so với cùng tháng năm trước, tăng 2,25% so với tháng 12 năm trước; Giao thông giảm 0,87% so với tháng trước, giảm 2,27% so với cùng tháng năm trước, tăng 3,80% so với tháng 12 năm trước; Hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,01% so với tháng trước, tăng 2,40% so với cùng tháng năm trước, tăng 2,18% so với tháng 12 năm trước.

+ 03 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá bằng 100% so tháng trước gồm: Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông; Giáo dục.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 11 của các nhóm hàng chính:

                      - Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

Chỉ số giá nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,10% so với tháng trước.

              + Lương thực

Chỉ số nhóm lương thực giảm 0,11% so với tháng trước. Giá nhóm lương thực giảm do giá gạo tẻ thường, giá khoai lang tại các chợ giảm so với tháng trước. Giá khoai lang giảm từ 1.000-2.000 đồng/kg và giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn, do nguồn cung về các chợ đang tăng nhẹ, giá gạo tẻ thường giảm 500 đồng/kg so với tháng trước do giá lúa thường giảm nhẹ.

Trên địa bàn thành phố gạo tẻ thường Hàm Châu giá phổ biến 11.500đ/kg-13.000đ/kg; gạo tẻ thường Tài Nguyên giá 13.000đ/kg-14.000đ/kg, gạo tẻ ngon thơm  Đài Loan giá 16.000đ/kg-17.000đ/kg, gạo tẻ ngon thơm Thái Lan giá 14.000đ/kg-16.000đ/kg, giá gạo nếp thường (nếp lá) dao động từ 15.000đ/kg-17.000đ/kg, gạo nếp ngon (nếp Thái) dao động từ 18.000đ/kg-21.000đ/kg. Giá khoai lang dao động từ 18.000-20.000 đồng/kg.

              + Thực phẩm

Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,41% so với tháng trước, tăng ở các nhóm mặt hàng:

Thịt gia súc tươi sống tăng 21,39% so với tháng trước trong đó thịt heo tăng 24,74%, thịt bò tăng 1,64%, nội tạng heo tăng 16,96%. Nguyên nhân do giá heo hơi hiện nay đang tăng rất cao, cao gần gấp 2 lần giá heo hơi cuối tháng 9 đầu tháng 10, giá heo tăng trong hoàn cảnh thị trường đang bị thiếu hụt nguồn cung, thương lái tăng mạnh thu mua xuất sang Trung Quốc trong khi nhu cầu của thị trường trong nước vẫn ở mức cao và sẽ còn tăng mạnh trong dịp cuối năm và dịp Tết Nguyên đán. Tại các chợ trên địa bàn thành phố giá thịt ba chỉ heo khoảng từ 120.000-140.000 đồng/kg, thịt đùi heo giá khoảng 100.000-110.000 đồng/kg, nạc thăn từ 120.000-140.000 đồng/kg, sườn non từ 160.0000-180.000 đồng/kg, cật heo giá từ 110.000-120.000 đồng/kg, bao tử heo giá từ 120.000-140.000 đồng/kg, tim heo giá từ 170.000-190.000 đồng/kg. Giá thịt bò tăng do giá thịt heo tăng quá cao đã khiến cho một bộ phận người tiêu dùng chuyển sang sử dụng thịt bò, thịt gia cầm, thủy sản để thay thế, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm này tăng lên kéo theo giá bán cũng tăng lên.

Nhóm thịt gia cầm tươi sống tăng 1,67% so với tháng trước do giá gà thịt, giá vịt thịt tăng. Nguyên nhân do nhu cầu nguyên liệu của thị trường dịp cuối năm đang tăng lên, người tiêu dùng đang chuyển sang sử dụng thịt gia cầm để thay cho việc sử dụng thịt heo trong thời điểm giá thịt heo đang tăng cao từng ngày.

Nhóm thịt chế biến tăng 6,65%, nhóm dầu mỡ ăn và các loại chất béo khác tăng 1,95% so với tháng trước. Nguyên nhân do tác động tăng giá của giá heo hơi.

Nhóm thủy sản tươi sống tăng 0,38%, thủy sản chế biến tăng 0,28% so với tháng trước. Nguyên nhân do nhu cầu nguyên liệu chế biến của thị trường dịp cuối năm và nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng.

Nhóm quả tươi, chế biến tăng 0,17% so với tháng trước do tác động tăng giá của mặt hàng quả có múi (cam, quýt), táo, xoài và một số loại quả khác (nhãn, nho, khóm). Nguyên nhân do nguồn cung giảm vì trái cây hết vụ, một số loại quả đang trong thời kỳ ra hoa, kết trái chuẩn bị cung cấp trong dịp Tết Nguyên đán.

Nhóm đường mật tăng 0,54% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng nhóm mặt hàng này đang tăng lên trong dịp cuối năm.

Bên cạnh các mặt hàng thực phẩm tăng giá, thì cũng có các mặt hàng thực phẩm có chỉ số giá giảm so với tháng trước là:

Giá trứng gia cầm các loại giảm 0,43% so với tháng trước do nguồn cung trứng đang dồi dào trong khi nhu cầu nguyên liệu của thị trường chưa tăng, nhu cầu tiêu dùng của người dân vẫn ổn định.

Nhóm rau tươi, khô và chế biến giảm 0,81% so với tháng trước. Nguyên nhân giá rau tươi tại các chợ giảm do giá một số loại rau, củ về chợ đang giảm như bắp cải, dưa leo, rau muống, đậu que, rau gia vị... do các loại này đang vào thời kỳ thu hoạch, nguồn cung về chợ tăng.

Nhóm đồ gia vị giảm 0,74% so với tháng trước do tiêu hạt tại chợ giảm.

              + Ăn uống ngoài gia đình

Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 1,82% so với tháng trước. Giá dịch vụ ở các quán ăn trên địa bàn thành phố tăng giá như cơm phần, cơm dĩa, phở, hủ tiếu... do tác động bởi giá thịt tăng cao.

               - Đồ uống và thuốc lá

Chỉ số giá nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,18% so với tháng trước. Nguyên nhân do giá một số loại bia chai, bia lon đang tăng giá trong các tháng cuối năm do nhu cầu tiêu dùng cuối năm và dự trữ hàng cho dịp năm mới đang tăng.

               - May mặc, mũ nón, giầy dép

Chỉ số giá nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,17% so với tháng trước. Nguyên nhân do giá một số sản phẩm quần áo, giày dép giảm giá trong dịp Lễ 20/11 và đợt giảm giá dịp cuối năm (ngày Black Friday).

                 - Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng 

Chỉ số giá nhóm Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,08% so với tháng trước. Nguyên nhân do giá vật liệu xây dựng trong tháng giảm cụ thể là giá thép xây dựng giảm, giá xi măng giảm, lượng sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân trong tháng giảm, giá dầu hỏa giảm 290 đồng/lít sau 2 lần điều chỉnh ngày 31/10 và ngày 15/11. Giá thép xây dựng trong nước giảm do giá thép thế giới giảm vì giá phôi thép trên thị trường thế giới giảm mạnh, kéo theo giá phôi thép trong nước cũng giảm. Giá xi măng giảm do các doanh nghiệp sản xuất, nhà phân phối giảm giá bán để tăng doanh thu trong quý cuối cùng của năm. Thời tiết mát mẻ hơn khi đang chuyển từ mùa thu sang mùa đông đã làm giảm lượng sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân trong tháng.

Tuy nhiên giá gas trong tháng lại tiếp tục tăng từ ngày 01/11, tăng thêm 3.500 đồng/bình 12kg, tăng 1,07% so với tháng trước. Như vậy, từ đầu năm đến nay giá gas đã 7 lần tăng với tổng tăng 69.000-69.500 đồng/bình 12 kg.

              - Thiết bị và đồ dùng gia đình

Chỉ số nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%. Chỉ số nhóm này giảm do giá nhóm mặt hàng hóa mỹ phẩm như xà bông, dầu gội, dầu xả giảm mạnh nhân dịp 20/11 và dịp giảm giá cuối tháng, trong khi nhiều mặt hàng thiết bị và đồ dùng gia đình khác giá đang được các nhà sản xuất, phân phối điều chỉnh tăng trong dịp này vì giá nhân công, nhu cầu của người dân đang tăng lên trong dịp cuối năm và đầu năm mới. Nhóm dịch vụ trong gia đình cũng tăng giá do giá dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng máy điều hòa nhiệt độ tăng lên do tăng chi phí nhân công tăng trong dịp cuối năm, nhu cầu sử dụng các dịch vụ trong gia đình cũng đang tăng.

             - Giao thông

Chỉ số giá nhóm Giao thông giảm 0,87% so với tháng trước. Nhóm này giảm do tác động của chỉ số giá nhiên liệu giảm 1,55% so với tháng trước, cụ thể là giá các mặt hàng xăng, dầu được điều chỉnh giảm trong ngày 31/10 và ngày 15/11. Giá xăng, dầu điều chỉnh vào ngày 31/10/2019 giá xăng A95 giảm 350 đồng/lít, xăng E5 giảm 220 đồng/lít, dầu diezen giảm 170 đồng/lít. Ngày 15/11/2019 giá xăng, dầu được điều chỉnh lần 2, xăng A95 tăng 350 đồng/lít, xăng E5 tăng 250 đồng/lít, dầu diezen giảm 90 đồng/lít. Sau 2 đợt điều chỉnh giá xăng A95 không tăng giảm, xăng E5 tăng tổng cộng 30 đồng/lít, dầu diezen giảm tổng cộng 260 đồng/lít so với giá cuối tháng 10. Giá xăng, dầu nhiên liệu bình quân tháng 11/2019 giảm 1,69% so với tháng trước.

Trong khi đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,46% so với tháng trước chủ yếu là lốp, săm xe máy tăng 0,28%, phụ tùng xe máy tăng 0,60%, lốp, săm xe đạp tăng 2,13%. Nguyên nhân giá nhiều phụ tùng xe máy, xe đạp tăng là do chi phí sản xuất, nguyên liệu, nhân công tăng trong dịp cuối năm.

- Văn hóa, giải trí và du lịch

             Chỉ số giá nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08% so với tháng trước. Chỉ số nhóm này tăng do tác động tăng của nhóm sách, báo, tạp chí, bưu thiếp tăng 0,06%, chỉ số nhóm đồ chơi tăng 0,12%, nhóm hoa tươi, cây cảnh tăng 2,71% so với tháng trước. Nguyên nhân do chi phí sản xuất, chi phí nhân công cũng như nhu cầu tiêu dùng đang tăng lên vào dịp cuối năm của một số mặt hàng như sách, báo, đồ chơi, cờ, bài, hoa tươi, cây cảnh.

              - Hàng hóa và dịch vụ khác 

 

Chỉ số nhóm Hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,01% so với tháng trước. Chỉ số nhóm này giảm do tác động của nhóm đồ trang sức bằng vàng giảm 2,13% so với tháng trước, do giá vàng thế giới giảm. Các mặt hàng túi xách, va ly, ví giảm 5,54% so với tháng trước do có các chương trình khuyến mãi giảm giá các mặt hàng này trong tháng.

Trong khi đó, nhóm vật dụng về hỉ như thiệp cưới, hoa cưới tăng giá do giá hoa tươi tăng, nhu cầu tiêu dùng đang tăng trong mùa cưới hỏi, tăng 0,85% so với tháng trước.

         - Chỉ số giá vàng

Chỉ số giá vàng tháng 11/2019 giảm 0,31% so với tháng trước, tăng 18,13% so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 17,66% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân là do ảnh hưởng của giá vàng thế giới nên giá vàng bình quân trong nước tháng 11 giảm so với giá bình quân tháng trước. Giá vàng nhẫn 99,99 ngày 21/11/2019 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 4.175.000 đồng/chỉ.

             - Chỉ số giá đô la Mỹ 

 

Chỉ số giá đô la Mỹ ổn định so với tháng trước, giảm 0,45% so với tháng 11 năm trước, giảm 0,42% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân là do việc điều hành giữ ổn định tỷ giá USD/VND của Ngân hàng Nhà nước. Giá đô la Mỹ ngày 21/11/2019 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 23.260 đồng/USD.

             2. Nội thương 

 

Tình hình kinh doanh của các Doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Cần Thơ 11 tháng đầu năm tiếp tục tăng trưởng tương đối ổn định.

Ước tháng 11/2019, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 11.242,10 tỷ đồng tăng 11,64% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 6.663,10 tỷ đồng tăng 10,43% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể đạt 3.270,21 tỷ đồng tăng 10,93% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước đạt 1.092,81 tỷ đồng tăng 9,32% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 81,99% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 11/2019 đạt 9.217,78 tỷ đồng tăng 9,82% so cùng kỳ. Khách sạn nhà hàng ước đạt 863,03 tỷ đồng tăng 15,22% so cùng kỳ. Du lịch lữ hành ước đạt 39,15 tỷ đồng tăng 10,03% so cùng kỳ. Dịch vụ ước đạt 1.122,15 tỷ đồng tăng 12,21% so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn Thành phố ước tính 11 tháng năm 2019 đạt 122.506,87 tỷ đồng tăng 10,84% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân ước đạt 72.142,70 tỷ đồng tăng 11,08% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể ước đạt 35.970,52 tỷ đồng tăng 10,92% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước ước đạt 12.017,66 tỷ đồng tăng 9,35% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 81,82% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 11 tháng năm 2019, ước đạt 100.235,21 tỷ đồng tăng 10,24% so cùng kỳ; Khách sạn nhà hàng ước đạt 9.490,49 tỷ đồng tăng 15,28% so cùng kỳ. Du lịch lữ hành ước đạt 449,70 tỷ đồng tăng 10,28% so cùng kỳ. Dịch vụ ước đạt 12.331,46 tỷ đồng tăng 12,47% so với cùng kỳ.

                   V. GIAO THÔNG VẬN TẢI

- Vận tải hàng hoá: Tháng 11/2019, ước vận chuyển 845,75 ngàn tấn hàng hoá tăng 4,04% so cùng kỳ; (luân chuyển đạt 141,26 triệu T.Km đạt 102,94% so cùng kỳ). Ước 11 tháng năm 2019 vận chuyển 9.362,97 ngàn tấn hàng hóa tăng 3,17% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 1.489,65 triệu T.Km đạt 101,60% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 11/2019, ước vận chuyển đạt 344,02 ngàn tấn tăng 4,85% so cùng kỳ (luân chuyển 59,55 triệu T.Km đạt 103,41% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển đạt 480,06 ngàn tấn tăng 3,51% so cùng kỳ (luân chuyển 60,05 triệu T.Km đạt 102,46% so cùng kỳ). Đường biển ước vận chuyển đạt 21,67 ngàn tấn tăng 3,12% so cùng kỳ (luân chuyển 21,67 triệu T.Km đạt 103,01% so cùng kỳ).

- Vận tải hành khách: Tháng 11/2019, ước vận chuyển 5.607,15 ngàn lượt hành khách tăng 3,73% so cùng kỳ; (luân chuyển 89,24 triệu lượt HK.Km đạt 102,97% so cùng kỳ). Ước 11 tháng năm 2019 vận chuyển 55.573,69 ngàn lượt HK tăng 3,06% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 918,13 triệu HK.Km đạt 102,30% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 11/2019, ước vận chuyển 3.892,09 ngàn lượt HK tăng 3,79% so cùng kỳ (luân chuyển 87,21 triệu HK.Km đạt 102,97% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển 1.715,07 ngàn lượt HK tăng 3,59% so cùng kỳ (luân chuyển 2,03 triệu HK.Km đạt 102,92% so cùng kỳ).

- Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Tháng 11/2019 doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước thực hiện 277,23 tỷ đồng, tăng 14,27% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 76,83 tỷ đồng tăng 14,38%; vận tải hàng hóa thực hiện 138,26 tỷ đồng, tăng 13,64%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 62,14 tỷ đồng, tăng 15,54% so cùng kỳ.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 11 tháng năm 2019 thực hiện 2.940,90 tỷ đồng, tăng 11,73% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 781,45 tỷ đồng tăng 10,71%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.428,53 tỷ đồng, tăng 12,38%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 730,93 tỷ đồng, tăng 11,55% so cùng kỳ.

           VI. NGÀNH TÀI CHÍNH - TÍN DỤNG  

             1. Tài chính ngân sách 

* Thu ngân sách: Thực hiện đến 20 ngày tháng 11/2019, tổng thu NSNN 11.746,12 tỷ đồng đạt 78,43% dự toán, trong đó thu nội địa là 9.437,25 tỷ đồng với các nguồn thu chủ lực như thu thuế khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 2.222,20 tỷ đồng đạt 105,17% dự toán, thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.476,18 tỷ đồng đạt 91,97% so dự toán, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 895,77 tỷ đồng đạt 72,83% so dự toán, thuế thu nhập cá nhân 790,61 tỷ đồng đạt 89,84% so dự toán. Tính đến 20/11/2019 hoạt động thu thuế hải quan ước đạt 510,68 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 4,35% trong tổng thu ngân sách nhà nước và đạt 51,07% so dự toán.

* Chi ngân sách: Ước đến 20 ngày tháng 11/2019 ngân sách đã chi 8.667,76 tỷ đồng chiếm 71,91% dự toán, bao gồm hoạt động chi đầu tư phát triển 3.787,88 tỷ đồng, chi thường xuyên 4.793,75 tỷ đồng.

2. Tín dụng ngân hàng: Vốn huy động đến cuối tháng 11 năm 2019 ước đạt 78.900 tỷ đồng, tăng 0,91% so với đầu tháng, tăng 8,82% so với tháng 12/2018. Trong đó, vốn huy động VNĐ là 77.100 tỷ đồng, chiếm 97,72%, tăng 0,85%, vốn huy động ngoại tệ là 1.800 tỷ đồng, chiếm 2,28%, tăng 3,27% so với đầu tháng; vốn huy động ngắn hạn là 52.500 tỷ đồng, chiếm 66,54%, tăng 1,08%, vốn huy động trên 12 tháng là 26.400 tỷ đồng, chiếm 33,46%, tăng 0,56% so với đầu tháng.

Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 11 năm 2019 ước đạt 87.700 tỷ đồng, tăng 0,90% so với đầu tháng, tăng 12,98% so với tháng 12/2018, trong đó dư nợ cho vay VNĐ đạt 83.500 tỷ đồng, tăng 0,84% so với đầu tháng, chiếm 95,21%, dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 4.200 tỷ đồng, tăng 2,21% so với đầu tháng, chiếm 4,79% trong tổng dư nợ cho vay; Phân theo thời hạn dư nợ cho vay ngắn hạn là 45.900 tỷ đồng, tăng 0,65% so với đầu tháng, chiếm 52,34%, dư nợ cho vay trung dài hạn 41.800 tỷ đồng, tăng 1,18% so đầu tháng, chiếm 47,66% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu đến cuối tháng 11 năm 2019 ước 1.400 tỷ đồng, chiếm 1,60% trong tổng dư nợ cho vay.

Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất trên địa bàn phổ biến như sau:

- Lãi suất huy động VNĐ: Lãi suất huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến mức 0,2 - 1,0%/năm; lãi suất huy động có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng mức 5,0% - 5,5%/năm; lãi suất huy động từ 6 đến 12 tháng phổ biến 5,5% - 6,8%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở mức 6,8% - 7,4%/năm tùy theo từng loại kỳ hạn.

           - Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 6,5%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến từ 7,0% - 9,0%/năm đối với ngắn hạn, 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn.

- Lãi suất USD: Lãi suất huy động thực hiện theo quy định là 0%/năm. Lãi suất cho vay phổ biến ngắn hạn 4,0% - 5,0%/năm, trung dài hạn 5,0% - 6,5%/năm.

               VII. TÌNH HÌNH VĂN HOÁ - XÃ HỘI 

            1. Văn hóa – Thể thao

              Nghệ thuật:

Trung tâm Văn hóa thành phố: Tổ chức Liên hoan Dân ca Nam bộ - Đờn ca tài tử thành phố Cần Thơ năm 2019 (tổ chức từ ngày 21-24/11/2019), tại Công viên Bến Ninh Kiều. Thực hiện chương trình giới thiệu, quảng bá đờn ca tài tử tại các điểm trường trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2019. Đội tuyên truyền lưu động thành phố Cần Thơ: Dàn dựng 01 kịch bản và biểu diễn 11 cuộc tại cơ sở chương trình văn nghệ tuyên truyền chủ đề “Cần Thơ – Đô thị miền sông nước”, thu hút khoảng 3.000 lượt người xem.

Nhà hát Tây Đô: Tổ chức biểu diễn 05 cuộc; phục vụ khoảng 2.500 lượt người xem. Tổ chức Chương trình biểu diễn sân khấu cải lương định kỳ “Dạ cổ Cầm Thi”, lần 3, ngày 26/10/2019, tại Nhà hát Tây Đô.

Các chương trình biểu diễn nghệ thuật định kỳ: Tổ chức 16 chương trình biểu diễn nghệ thuật định kỳ tại bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng và Sân chơi tài tử Cầu đi bộ, thu hút từ 300 - 500 lượt người xem/chương trình.

Công tác thư viện: Hệ thống thư viện toàn thành phố phục vụ 249.500 lượt người đọc và 458.427 lượt sách báo. Toàn hệ thống bổ sung 16.801 quyển sách. Tổ chức 07 cuộc triển lãm lưu động phục vụ các sự kiện: Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng Cờ Đỏ (10/11/1929 - 10/11/2019); Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch quận Ô Môn - Đại đoàn kết các Dân tộc TP. Cần Thơ lần thứ III, năm 2019; Chương trình “Cùng em đọc sách”, xe thư viện lưu động phục vụ tại 05 trường tiểu học; thu hút tổng cộng trên 18.000 lượt người xem.

Công tác bảo tàng, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc: Tổ chức 19.052  phục vụ lượt khách tham quan tại Bảo tàng thành phố Cần Thơ, Trạm vệ tinh ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam tại Cần Thơ và các di tích LS-VH trên địa bàn thành phố. Thực hiện 45 hồ sơ khoa học của 62 hiện vật. Tổ chức triển lãm ảnh tại Hội thảo “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền biển, đảo Việt Nam trên địa bàn thành phố Cần Thơ” năm 2019. Tổ chức triển lãm ảnh, trình diễn, tặng chữ thư pháp tại: Di tích lịch sử Địa điểm thành lập Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng Cờ Đỏ, Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch quận Ô Môn – Đại đoàn kết các dân tộc thành phố Cần Thơ năm 2019, Tuần lễ Văn hóa Hungary tại thành phố Cần Thơ năm 2019; Tuần Văn hóa Campuchia tại Việt Nam 2019; Phối hợp với UBND quận Thốt Nốt tổ chức Lễ đón bằng xếp hạng Di tích lịch sử Mộ Soạn giả Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền.

Thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Vô địch trẻ Boxing thành phố Cần Thơ năm 2019, có 47 VĐV, của 5 đoàn tham dự (Kiên Giang, Cà Mau, Bắc Giang, Cần Thơ 1, Cần Thơ 2), Đoàn Cần Thơ đạt 10 HCV, 05 HCB, 06 HCĐ. Tổ chức Giải Vô địch Bóng chuyền thành phố Cần Thơ năm 2019, có 132 VĐV của 11 đơn vị tham gia: Ninh Kiều, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Phong Điền, Thới Lai, Cờ Đỏ, Cái Răng, Công an thành phố, Cảng Hàng không Cần Thơ, kết quả: Hạng nhất - Cờ Đỏ, hạng nhì - Vĩnh Thạnh, Hạng 3 - Công an thành phố, hạng 4 - Cảng Hàng không Cần Thơ. Giải Vô địch Bóng đá TP. Cần Thơ, có 08 đội quận, huyện tham dự (Bình Thủy không tham dự), kết quả: Hạng Nhất - Cờ Đỏ, hạng Nhì - Ô Môn, hạng Ba - Vĩnh Thạnh.

Thể thao thành tích cao: Tổ chức Giải Cờ tướng trung cao tuổi toàn quốc lần thứ VI năm 2019, tngày 22 - 26/10/2019, có 145 VĐV của 18 đoàn, kết quả: Hạng nhất - Hà Nội, hạng Nhì - TP. Điện Biên Phủ, hạng Ba - Thái Bình, hạng Tư - TP. Cần Thơ.

Tham dự Giải Vô địch Vovinam toàn quốc lần thứ 26 năm 2019, từ ngày 15- 24/10/2019, tại tỉnh Quảng Nam, đạt 07 HCV-04HCB-01HCĐ; Giải Judo miền Đông Nam Bộ tỉnh Bình Dương mở rộng năm 2019, từ ngày 31/10-03/11/2019, tại tỉnh Bình Dương, đạt 02 HCV – 03 HCB – 04 HCĐ; Giải Đua thuyền Cúp Canoeing toàn quốc năm 2019, từ ngày 05/11-10/11/2019, tại tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả đạt 01 HCV- 01 HCB - 01 HCĐ; Giải Vô địch Bowling các đội mạnh toàn quốc năm 2019, từ ngày 06 - 12/11/2019, tại Huế, đạt 03 HCV-03HCB-03HCĐ; Giải Vô địch Taekwondo các câu lạc bộ mạnh toàn quốc năm 2019, từ ngày 07/11 -15/11/2019, tại tỉnh Gia Lai, đạt 03 HCĐ.

                 2. Giáo dục 

 

Ngành giáo dục và đào tạo thành phố đã tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu đổi mới, trong đó chú trọng nâng cao ý thức giữ gìn đạo đức nhà giáo theo đúng định hướng của ngành.

Thời gian qua, công tác xây dựng cảnh quan trường học và vệ sinh trường lớp ở TP Cần Thơ rất được quan tâm. Nhiều giải pháp, mô hình hay phát huy hiệu quả như Trường THCS Hưng Thạnh (quận Cái Răng) với mô hình “xanh trường, đẹp lớp”; vườn rau của Trường TH Võ Trường Toản (quận Ninh Kiều); Trường THPT Thốt Nốt (quận Thốt Nốt) với giải pháp “Giáo dục ý thức giữ gìn cảnh quan trường học”.

Nhiều trường học tiến hành cải tạo khuôn viên nhà trường, các phòng làm việc, phòng thực hành và trong các lớp học theo hướng xanh - sạch - đẹp - an toàn và thân thiện với môi trường. Các lớp được phân công lao động, chăm sóc cảnh quan các khu vực đều thực hiện tốt.

Học sinh chia nhau vệ sinh, chăm sóc các khu vực xung quanh trường và trồng, chăm sóc cây xanh trong nhà vệ sinh. Trồng rau và các loại cây thực nghiệm sau các tiết học lý thuyết trên lớp ở bộ môn Sinh học...

Sáng 15/11, Sở GD&ĐT TP Cần Thơ long trọng tổ chức Họp mặt chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.

           3. Về Y tế - khám chữa bệnh

Tình hình dịch bệnh ổn định, không có vụ dịch nguy hiểm xảy ra. Tuy nhiên trong tháng một số bệnh như: Sốt xuất huyết ghi nhận 501 trường hợp mắc, tăng 52 trường hợp so với tháng trước (449 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay 1857 trường hợp mắc, tăng 954 trường hợp so cùng kỳ (903 trường hợp), không có tử vong. Tay chân miệng ghi nhận 509 trường hợp mắc, giảm 34 trường hợp so với tháng trước (543 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay ghi nhận 1.803 trường hợp mắc, tăng 893 trường hợp so cùng kỳ (910 trường hợp), không có tử vong. Sởi và sốt phát ban nghi sởi ghi nhận 14 trường hợp mắc, tăng 04 trường hợp so với tháng trước (10 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay ghi nhận 406 trường hợp mắc, không có tử vong. Thủy đậu: không ghi nhận trường hợp mắc, không tăng không giảm so với tháng trước (0 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay 26 trường hợp mắc, giảm 01 trường hợp so với cùng kỳ 2018 (27 trường hợp). Tiêu chảy 442 trường hợp, tăng 7,54% so với tháng trước.

Hoạt động Y tế dự phòng: Thực hiện giám sát An toàn tiêm chủng trong chương trình tiêm chủng mở rộng trên địa bàn thành phố Cần Thơ tại quận Cái Răng và huyện Phong Điền.

Kiểm tra, giám sát công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết tại các quận/huyện. Chấn chỉnh các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại Quận Ninh Kiều về công tác xử lý ổ dịch, phun thuốc diệt muỗi diện rộng.

Chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật thực hiện phun thuốc diệt côn trùng diện rộng tại phường An Hòa, phường Hưng Lợi thuộc quận Ninh Kiều và phường Bùi Hữu Nghĩa, phường An Thới, phường Long Hòa thuộc quận Bình Thủy.

Tiếp tục thực hiện công tác kiểm dịch y tế quốc tế tại các cảng thuộc Cảng biển Cần Thơ và Cảng Hàng không quốc tế Cần Thơ, thực hiện kiểm tra thân nhiệt cho 187 thủy thủ của 11 tàu thủy nhập và 2642 hành khách của 31 tàu bay nhập. Phối hợp với Cảng vụ hàng hải Cần Thơ về việc làm thủ tục tàu nhập/xuất, giám sát theo cổng thông tin điện tử quốc gia.

Thực hiện kiểm tra, đánh giá công tác y tế dự phòng tại các đơn vị trực thuộc năm 2019. Phân phối tờ rơi tuyên truyền về bệnh viêm gan C, cung cấp thông tin chung về gan và bệnh viêm gan; các đường lây truyền; các xét nghiệm cận lân sàng; các biện pháp dự phòng lây truyền viêm gan C.

Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Lũy tích số nhiễm HIV phát hiện được 6.385 trường hợp; trong đó, tử vong 2.491 trường hợp, số nhiễm HIV còn sống 3.894 trường hợp. Duy trì điều trị ARV cho 3.196 trường hợp. Duy trì điều trị Methadone cho 386 bệnh nhân, lũy tích đến nay đạt 1.250 bệnh nhân.

          Xây dựng và triển khai kế hoạch điều tra kiến thức người dân trong độ tuổi từ 15-49 có hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS năm 2019. 

Tổ chức Hội nghị triển khai Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS năm 2019.

Công tác khám chữa bệnh: Các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc thực hiện tốt quy chế chuyên môn, đảm bảo các quy trình kỹ thuật trong khám chữa bệnh đồng thời tăng cường công tác khám chữa bệnh và quản lý quỹ BHYT.

Tổ chức 02 lớp tập huấn nâng cao năng lực truyền thông và phòng bệnh về bệnh lý viêm gan vi rút C, với 90 người tham dự. Giao Bệnh viện đa khoa thành phố và Trung tâm Y tế quận Ninh Kiều tiếp nhận 10.000 test sàng lọc vi rút C (do Công ty cổ phần dược phẩm Việt Hà tài trợ) để sàng lọc miễn phí cho đối tượng có nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan C, người bệnh nội trú, ngoại trú, nhân viên y tế và các đối tượng có nhu cầu xét nghiệm.

Bệnh viện Tim mạch thành phố khánh thành phòng Can thiệp Tim mạch,

đánh dấu sự khởi đầu thành công trong việc tiếp nhận kỹ thuật chuyên khoa sâu

lĩnh vực tim mạch.

          Các đơn vị trực thuộc Sở Y tế đảm bảo nhân lực trực cấp cứu, thuốc chữa bệnh, trang thiết bị, phương tiện khám, chữa bệnh phục vụ nhân dân; tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong mùa mưa bão.

          4. Chính sách lao động - xã hội 

Trong tháng, thành phố Cần Thơ giải quyết việc làm cho 5.126 lao động (Trong đó, cung ứng 25 lao động đi làm việc ở nước ngoài), lũy kế từ đầu năm đã giải quyết việc làm cho 76.311 lao động (có 221 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài), vượt 52,622% chỉ tiêu kế hoạch năm đã đề ra.

Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 90 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN). Các cơ sở GDNN tuyển mới và đào tạo nghề cho 3.954 người (Sơ cấp 1.911; đào tạo thường xuyên 2.043). Lũy kế đến tháng 11/2019, các cơ sở GDNN đã tuyển mới và đào tạo nghề cho 47.077 người đạt 98,08% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 (Cao đẳng 6.710, Trung cấp 3.089; Sơ cấp 15.721, đào tạo thường xuyên 21.530).

             Đã khai giảng 119 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch năm 2019. Cấp giấy phép lao động cho 16 lao động nước ngoài; miễn cấp giấy phép lao động cho 02 lao động nước ngoài. Tiếp nhận và thẩm định cấp Giấy xác nhận khai báo sử dụng máy thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động của 01 doanh nghiệp với 01 thiết bị. Tiếp nhận Nội quy lao động của 06 đơn vị. Tiếp nhận Thỏa ước lao động của 01 đơn vị.

Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố: Tư vấn nghề nghiệp, việc làm, quan hệ lao động cho 13.469 lượt người (lũy kế từ đầu năm 2019 là 105.659 lượt người, đạt 78,27% kế hoạch năm). Kết nối việc làm trong nước cho 1.842 lượt người (lũy kế từ đầu năm 2019 là 11.107 lượt người, đạt 100,97% kế hoạch năm). Đào tạo nghề và kỹ năng lao động cho 634 lượt người (lũy kế từ đầu năm 2019 là 56.374 lượt người, đạt 99,60% kế hoạch năm). Tiếp nhận 77 lượt doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động thông báo biến động lao động hàng tháng theo quy định, (lũy kế từ đầu năm 2019 là 1.026 lượt, đạt 102,60% so với kế hoạch năm). Có 835 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 15,06% so với tháng trước (983 hồ sơ). Tổ chức tập huấn kỹ năng Marketing trong thời đại 4.0; phối hợp Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia dạy nghề; Trường Cao đẳng Cần Thơ; Trường Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ thực hiện các lớp kỹ năng thuộc dự án SCI.… có 2.688 người dự và các hoạt động khác.

Thực hiện chính sách người có công với cách mạng: Hiện có 6.449 người có công với cách mạng ở thành phố Cần Thơ đang hưởng trợ cấp ưu đãi thường xuyên hơn 10 tỷ đồng; trong đó có 47 Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống). Trong tháng, đã tiếp nhận, xét duyệt và giải quyết 124 hồ sơ chế độ chính sách.

Đã nghiệm thu, bàn giao 25 trong tổng số 30 căn nhà tình nghĩa do SHB hỗ trợ. Đã bàn giao 24 căn nhà tình nghĩa do Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Cần Thơ hỗ trợ. Đang kiểm tra rà soát và xét chọn 10 căn nhà tình nghĩa từ nguồn hỗ trợ của Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Cần Thơ. Công ty Điện lực Miền Nam hỗ trợ và bàn giao 10/10 căn nhà tình nghĩa.

Phối hợp các đơn vị có liên quan trong Ban Chỉ đạo 515 thành phố Cần Thơ kết luận địa bàn về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên địa bàn quận Thốt Nốt. Phối hợp Hội Cựu chiến binh và Bộ Chỉ huy quân sự thành phố cùng các ngành tuyên truyền thông tin tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ. Rà soát xác lập hồ sơ Mẹ Việt Nam Anh hùng; rà soát Danh sách tặng thưởng Huân chương Độc Lập cho gia đình có nhiều liệt sĩ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tổ chức đưa 26 người có công với cách mạng 26 người đi điều dưỡng tập trung tại thành phố Phan Thiết.

 Công tác bảo trợ xã hội - Trẻ em và bình đẳng giới

                Trợ cấp thường xuyên cho 39.215 đối tượng bảo trợ xã hội ngoài cộng đồng  với tổng kinh phí 13,114 tỷ đồng. Mua bảo hiểm y tế cho 34.524 đối tượng với kinh phí 2,605 tỷ đồng. Chi trả mai táng phí cho 112 đối tượng bảo trợ xã hội, với kinh phí 604,8 triệu đồng.

Tổ chức Tọa đàm Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị; giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tổ chức Hội thảo “Định hướng công tác Bình đẳng giới trong thời gian tới”. Phối hợp tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động vì Bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2019”.

Trung tâm Bảo trợ xã hội quản lý 588 đối tượng. Đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm và tổ chức nấu ăn hàng ngày cho đối tượng đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Đảm bảo tình hình an ninh, trật tự được giữ vững ổn định, thường xuyên kiểm tra, tuần tra, đảm bảo trực gác 24/24 giờ. Luôn đề cao cảnh giác phòng chống cháy nổ, trực thăm nuôi theo quy định. Kịp thời can thiệp 35 vụ đối tượng đánh nhau, ngăn chặn 03 đối tượng lên cơn kích động, nhắc nhở 05 trường hợp đối tượng vi phạm nội quy. Duy trì vệ sinh cá nhân hằng ngày cho đối tượng. Tổ chức phục hồi chức năng như: lao động nhẹ, vệ sinh quanh cơ quan, chăm sóc cây xanh tạo cảnh quang xanh, sạch, đẹp có 615 lượt tham gia. Tăng khẩu phần ăn cho 43 đối tượng lão, nhi, đối tượng có sức khỏe yếu. Hướng dẫn, tư vấn cho thân nhân, gia đình có nhu cầu bảo lãnh người thân về gia đình tiếp tục quản lý và điều trị trên 09 lượt người. Hướng dẫn đối tượng tập vật lý trị liệu nhằm phục hồi chức năng và trị rối nhiễu tâm trí có 608 lượt tham gia.

Trung tâm Công tác xã hội nuôi dưỡng 86 đối tượng. Tiếp tục thực hiện các mô hình như: Câu lạc bộ Tuổi Hồng; công tác xã hội trong bệnh viện; giáo dục kỹ năng sống và hướng nghiệp cho các đối tượng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội; hỗ trợ tâm lý và giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp cho đối tượng đang sống tại Trung tâm; đồng thời thường xuyên duy trì sinh hoạt, tư vấn, tiếp cận, trợ giúp, kết nối và tổ chức các hoạt động khác với trên 1.462 người dự. Tổ chức tập huấn 28 giáo viên và nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp về hỗ trợ tâm lý và các kỹ năng tham vấn cho thanh thiếu niên LGBT. Tổ chức Hội thảo giao lưu lãnh đạo các nhóm tự lực thanh thiếu niên LGBT (40 đại biểu tham dự).

Đảm bảo chế độ ăn cho đối tượngbổ sung dinh dưỡng từ Nguồn trợ giúp như: sữa tươi, mì gói vào các bữa ăn phụ. Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm: đảm bảo đối tượng được ăn chín, uống sôi; mua thực phẩm tươi sống, đảm bảo chất lượng và có nguồn gốc; thường xuyên thực hiện việc lưu mẫu thực phẩm sau khi chế biến để có có cơ sở xử lý khi có sự cố xảy ra; thay đổi thực đơn hàng ngày cho đối tượng. Duy trì công tác khám và điều trị bệnh thông thường cho đối tượng. Đã khám và điều trị các bệnh thông thường 575 lượt đối tượng trong tháng.

 5. Tai nạn giao thông

 Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông thành phố Cần Thơ tình hình tai nạn giao thông (từ ngày 16/10/2019 đến 15/11/2019) trên địa bàn thành phố đã xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 12 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tăng 06 vụ, số người chết tăng 03 người, số người bị thương giảm 04 người. 11 tháng năm 2019, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 96 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 100 người, bị thương 26 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tăng 02 vụ, số người bị thương giảm 08 người.

 

 

                                                                                                                                    CỤC THỐNG KÊ TP. CẦN THƠ

Các biểu số liệu:

 

 

01. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn

Xem

02. Chi ngân sách địa phương

Xem

03. Sản xuất nông nghiệp

Xem

04. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Xem

05. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Xem

06. Số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

07. Vốn đăng ký và vốn bổ sung của dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

08. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Xem

09. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Xem

10. Vận tải hành khách

Xem

11. Vận tải hàng hóa

Xem

Các tin khác
Tình hình KT-XH tháng 07 năm 2020 - 27/07/2020
Tình hình KT-XH tháng 06 năm 2020 - 29/06/2020
Tình hình KT-XH tháng 05 năm 2020 - 26/05/2020
Tình hình KT-XH tháng 04 năm 2020 - 27/04/2020
Tình hình KT-XH tháng 03 năm 2020 - 26/03/2020
Tình hình KT-XH tháng 02 năm 2020 - 26/02/2020
Tình hình KT-XH tháng 01 năm 2020 - 01/02/2020
Tình hình KT-XH tháng 12 năm 2019 - 27/12/2019
Tình hình KT-XH tháng 10 năm 2019 - 26/10/2019
Tình hình KT-XH tháng 08 năm 2019 - 27/08/2019
Thông báo
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2020
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2020
Thông cáo báo chí Tình hình KT-XH 6 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn TP.Cần Thơ
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2020
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2020
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 4/2020
Quyết định số 401/QĐ-TCTK ngày 10/3/2020 Về việc bổ nhiệm Phó Cục trưởng Cục Thống kê TP Cần Thơ
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 3/2020
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 02/2020
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2020
Quyết định số 19/QĐ-CTK ngày 17/3/2020 của Cục trưởng Cục Thống kê thành phố Cần Thơ v/v phân công công tác của Lãnh đạo Cục Thống kê thành phố Cần Thơ
Nghị định số 103/2018/NĐ-CP ngày 07/8/2018 của Chính phủ Quy định một số cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, ngân sách và phân cấp quản lý đối với thành phố Cần Thơ
Nghị định số 85/2017/NĐ-CP ngày 19/7/2017 quy định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thống kê tập trung và thống kê bộ, cơ quan ngang bộ
Tin video
Đang online: 8538
Hôm nay: 1,471
Hôm qua: 8,363
Tuần này: 24,425
Tuần trước: 53,169
Tháng này: 417,331
Tháng trước: 482,831
Tất cả: 7,652,159
Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Điện thoại: (0710) 3734 641 Email: cantho@gso.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Lê Ngọc Bảy - Cục trưởng Cục Thống kê TP. Cần Thơ