Chào mừng quý khách đã đến với Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP.Cần Thơ - Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Trang chủ
Giới thiệu>
Tin tức sự kiện>
Lĩnh vực chuyên môn>
Ấn phẩm thống kê
Văn bản>
Liên hệ
Sơ đồ
Tin tức & Sự kiện
Tình hình KT-XH tháng 11 năm 2018 - 28/11/2018

 

I. CÔNG NGHIỆP

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tháng 11 tăng 3,62% so với tháng trước và tăng 10,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,72%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,51%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 7,76% so với cùng kỳ.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước thực hiện 11 tháng tăng 8,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,19%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,96%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 5,93%. Trong đó, có một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá như: Phi lê đông lạnh tăng 10,20%; tôm đông lạnh tăng 1,87%; gạo xay xát tăng 9,57%; thức ăn cho thủy sản tăng 23,05%; bia lon tăng 12,27%; quần áo tăng 42,82%; dược phẩm tăng 8,95%; xi măng tăng 1,15%; nước sinh hoạt tăng 6,50%. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh sản xuất vào những tháng cuối năm để hoàn thành các hợp đồng ký kết và kế hoạch đã đề ra. Mặt khác, doanh nghiệp đã tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường các mối liên hệ hợp tác với các doanh nghiệp có năng lực đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, doanh nghiệp tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tích cực mở rộng các ngành, nghề có lợi thế cạnh tranh, phát triển các ngành nghề truyền thống có tiềm năng. Hơn nữa, doanh nghiệp đã đẩy mạnh đổi mới công nghệ, trình độ kỹ thuật, tập trung phát triển nguồn nhân lực, chú trọng nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, tập trung phát triển sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, do đó doanh nghiệp đã tìm kiếm được nhiều hợp đồng mới nên đã đẩy mạnh sản xuất góp phần duy trì tăng trưởng ổn định các ngành sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 11 tăng 1,78% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng chỉ số tiêu thụ tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,34%; sản xuất đồ uống tăng 7,96%; sản xuất trang phục tăng 26,33%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 3,67%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,99%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 24,21%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,67%; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 12,56%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,58%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,82%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 6,45%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 8,59%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 22,45%. Nguyên nhân tăng là do các doanh nghiệp thường xuyên áp dụng các dịch vụ quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường, liên kết hợp tác đầu tư được đẩy mạnh nhằm tăng mức tiêu thụ, giảm bớt tồn kho.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/11/2018 là 87,45% so với tháng cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2018 tăng 0,23% so với tháng trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,17%, doanh nghiệp Ngoài Nhà nước tăng 0,24% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,21%. Số lao động tại các doanh nghiệp có mức tăng nhẹ, không có biến động nhiều.

 

II. NÔNG LÂM NGHIỆP - THUỶ SẢN

 

1. Nông nghiệp

 

1.1. Trồng trọt

- Cây lúa

Vụ Thu đông 2018: Diện tích toàn thành phố là 74.071 ha so với cùng kỳ tăng 0,62%, bằng 453 ha; so với kế hoạch (KH 54.900 ha) đạt 113,49%. Diện tích tăng chủ yếu là huyện Vĩnh Thạnh và Thới Lai có đê bao lũ đảm bảo cho cây lúa đến lúc thu hoạch; Các quận, huyện còn lại diện tích giảm so vụ lúa thu đông 2017; Các giống lúa chất lượng cao được nông dân ưa chuộng tiếp tục gieo sạ như: OM 5451: 64% so với diện tích gieo trồng, OM 4218: 5%, IR 50404: 18%, Jasmine 85: 1%,... và các giống khác 12%.

Đến ngày 14/11/2018, đã thu hoạch dứt điểm vụ lúa Thu đông, năng suất gieo trồng ước là 49,92 tạ/ha, ổn định so với cùng kỳ, sản lượng đạt 369.753 tấn, tăng so cùng kỳ 0,56%, bằng 2.043 tấn.

Nguyên nhân năng suất ổn định và sản lượng tăng:

Do thời tiết từ đầu vụ đến lúc thu hoạch thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển cây lúa. Tuy lũ về sớm và lớn, nhưng phần lớn diện tích xuống giống của các quận, huyện đầu nguồn đều nằm trong đê bao an toàn, nên bà con luôn chủ động được lượng nước cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa.

Ngành nông nghiệp chỉ đạo cho bà con xuống giống tập trung đồng loạt nhưng vẫn đảm bảo thời gian cách vụ và áp dụng tốt các giải pháp kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ lúa; Từng khu vực không có các trà lúa xuống giống với các thời điểm khác nhau đan xen, nhằm tránh tích lũy và lây lan các mầm sâu bệnh nhằm đảm bảo chất lượng hạt lúa và hạn chế thất thoát sau thu hoạch khi lũ về sớm.

Bà con nông dân thực hiện việc chọn giống tốt, bón phân cân đối và áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, giúp cây lúa chắc khỏe, ít bị đổ ngã và tiêu thoát nước phù hợp nên có nhiều thuận lợi trong thu hoạch.

 Một số nơi sâu, bệnh xuất hiện cục bộ trên diện tích nhỏ của các quận, huyện như  rầy nâu, sâu cuốn lá, chuột cắn phá. Do phát hiện kịp thời nên nông dân đã ứng dụng các giải pháp kỹ thuật để xử lý, khống chế sự phát triển của dịch hại, nên ảnh hưởng của các tác nhân trên không nhiều đến năng suất cây lúa.

Đến ngày 14/11/2018, giá lúa khô ổn định so với tháng trước cụ thể như sau: giá lúa chất lượng cao hạt dài OM từ 6.3006.400 đồng/kg, lúa IR từ 6.000 - 6.1000 đồng/kg. Nhìn chung giá lúa Thu đông có tăng 400 – 500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; Nguyên nhân giá lúa tăng là do các doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) đã ký nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo cùng với việc đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, xây dựng vùng nguyên liệu gạo an toàn, chất lượng cao vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện có 124 cơ sở, hộ sản xuất và cung ứng lúa giống với năng lực cung ứng 52.700 tấn/năm.

Ngành Nông nghiệp thường xuyên kiểm tra đê bao, tăng cường công tác gia cố đê bao để tránh ngập úng, theo dõi tình hình thời tiết, nhất là mực nước nội đồng, triều cường kết hợp với mưa bão, hướng dẫn nông dân chuẩn bị máy bơm để bơm khi cần thiết. Vận động bà con nông dân ngay từ đầu vụ, tránh tư tưởng chủ quan gieo sạ không tập trung theo lịch khuyến cáo, phải tuân thủ nghiêm ngặt lịch né rầy, không nên gieo sạ trước khi rầy di trú đến, không nên gieo sạ lai rai để tránh tình trạng có nhiều trà lúa trên cùng một cánh đồng, thời gian xuống giống mỗi đợt cần tập trung 5-7 ngày. Xây dựng cơ cấu giống lúa cho vụ Đông xuân 2019 đảm bảo yêu cầu cân đối, an toàn dịch bệnh và sử dụng giống bền vững, phù hợp với thực tế sản xuất và thị trường, giữ tỷ lệ cơ cấu phù hợp với các giống chủ lực: Jasmine 85, OM 5451, OM 4218, OM 2517, OM 7347... Đến ngày 14/11/2018, lúa Đông xuân 2019, đã xuống giống khoảng 12.511 ha, đạt 15,55% kế hoạch (80.480 ha), tập trung tại huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và quận Thốt Nốt, lúa chủ yếu đang ở giai đoạn mạ; Có một số đối tượng gây hại như: ốc bươu vàng, chuột,… xuất hiện với mật số thấp.

 

- Cây hàng năm

Đến ngày 14/11/2018, toàn TP đã xuống diện tích gieo giống cây hàng năm khác vụ Đông xuân 2019 ước đạt 334 ha đạt 1,72% so với kế hoạch, nhanh hơn cùng kỳ 127 ha. Bà con tiếp tục chăm sóc và thu hoạch diện tích các nhóm cây hằng năm đã gieo trồng trong vụ mùa 2018, năng suất ổn định so với cùng kỳ.

 

- Cây lâu năm

Hiện nay, diện tích cây ăn quả ước khoảng 18.361 ha, chiếm 90,97% tổng diện tích cây lâu năm toàn thành phố tăng 11% so cùng kỳ. Chủ yếu tăng ở nhóm cây nhiệt đới, cận nhiệt đới tăng 10,72%. Cây xoài tăng 9,92%; sầu riêng tăng 180 ha; Na (mãng cầu) tăng 135 ha;... Nguyên nhân do nông dân chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn trái. Ngành Nông nghiệp tiếp tục vận động nông dân khôi phục vườn cây ăn trái tập trung, chuyên canh; Với định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện nay đã xây dựng được 12 vườn cây ăn trái kết hợp phát triển du lịch sinh thái, lợi nhuận cao gấp 1,5- 2 lần so với trồng chuyên cây ăn trái và triển khai kế hoạch xây dựng vùng sản xuất vú sữa, xoài và nhãn theo tiêu chuẩn VietGAP, ngành đã  hỗ trợ kỹ thuật, bao tiêu trái vú sữa (6,3 ha) và bao tiêu trái xoài với Hợp tác xã xoài Lộc Hưng, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ.

Trong tháng, do ảnh hưởng đợt triều cường, nước rút chậm, một số vườn cây ăn trái bị ngập đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển. Phải chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật để không ảnh hưởng đến năng suất của những vụ sau. Tổng diện tích nhiễm dịch hại trên các loại cây trồng trên 297 ha; Tuy nhiên, dịch bệnh đã được kiểm soát, xử lý bằng các giải pháp kỹ thuật kịp thời nên đã khống chế sự bùng phát trên diện rộng.

Hiện nay, toàn thành phố có 58 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn trái với năng lực cung ứng 650.000 cây/năm.

 

1.2. Chăn nuôi

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố không xảy ta dịch bệnh tai xanh ở heo, dịch tả heo Châu Phi, lở mồm long móng trên gia súc và dịch cúm gia cầm. Ngành đã chú trọng phát triển chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học và an toàn vệ sinh thực phẩm. Hình thành các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung quy mô lớn liên kết sản xuất theo chuỗi. Công tác ứng dụng kỹ thuật trong chăn nuôi được tăng cường nên năng suất và chất lượng đàn gia súc, gia cầm được nâng cao.

 

a. Đàn trâu, bò

Tính đến 01/10/2018 đàn trâu toàn TP có 144 con, đàn bò có 4.508 con (so thời điểm 01/10/2017 tổng đàn bò giảm 172 con, thời điểm 01/4/2018 giảm 148 con ). Nguyên nhân là do diện tích đất chăn thả dần bị thu hẹp.

b. Đàn heo

 

Tổng đàn heo toàn TP có đến 01/10/2018 là 130.132 con, so cùng kỳ năm 2017 giảm 0,79%, bằng 1.030 con; So thời điểm 01/4/2018, đàn heo tăng 4.821 con. Trong đó, đàn heo thịt có 116.677 con, chiếm 89,66% trong tổng đàn; đàn heo nái đạt 13.190 con, chiếm 10,14% trong tổng đàn; đàn heo đực giống có 265 con.   

 

Nguyên nhân đàn heo biến động tăng như trên là do:

Giá heo bắt đầu tăng từ tháng 04/2018 và giữ ở mức cao trong những tháng gần đây, giá heo hơi bình quân trong kỳ dao động từ 44.000đ/kg - 50.000đ/kg, so với cùng kỳ năm trước tăng từ 18.000đ/kg đến 24.000đ/kg đã khiến các hoạt động đầu tư tái đàn, nuôi quay trở lại. Tuy nhiên giá heo giống khoảng 1.100.000đ/con là tương đối cao nên một bộ phận người dân đã bắt đầu gây dựng đàn heo nái.

 

c. Đàn gia cầm

Tính đến 01/10/2018, đàn gia cầm TP Cần Thơ có 1.824 ngàn con, so 01/10/2017 giảm 4,59%, bằng 88.000 con. Trong đó, đàn gà là 597 ngàn con, so 01/10/2017 giảm 2,80%; đàn Vịt là 1.156 ngàn con, so 01/10/2017 giảm 72 ngàn con.

Nguyên nhân:

Giảm chủ yếu ở đàn vịt thời vụ và đàn gà thịt. Do diễn biến thời tiết phức tạp, nắng nóng, mưa, nước lũ năm nay về nhiều có thể phát sinh một số loại dịch bệnh, nên bà con nông dân không tái đàn một cách ồ ạt, mà chỉ chăn nuôi cầm chừng chủ yếu để tiêu dùng trong gia đình. Mặt khác diện tích chăn nuôi ngày càng thu hẹp. Nước lũ dâng cao nên khó khăn trong việc chăn thả đàn vịt đẻ trứng, nông dân nuôi vịt chạy đồng phải chăn thả ở các tỉnh khác như An giang, Kiên giang cũng làm tăng chi phí nên bà con nông dân chưa yên tâm phát triển đàn gia cầm.

 

2. Lâm nghiệp

Với vị trí địa lý của thành phố Cần Thơ hiện nay, diện tích trồng cây lâm nghiệp tập trung không còn, bà con nông dân chỉ trồng cây phân tán ở những vùng đất nhỏ lẻ ven các tuyến lộ giao thông nông thôn... tiếp tục chăm sóc các cây lâm nghiệp trồng phân tán đã trồng, đồng thời khai thác các cây đủ tiêu chuẩn phục vụ cho nhu cầu xây dựng, làm chất đốt trong đời sống....

 

3. Thủy sản

Trong tháng, diện tích nuôi thuỷ sản đã thu hoạch, được tiến hành cải tạo để thả nuôi cho vụ mới; Hiện nay giá bán cá tra nguyên liệu dao động từ 34.000 – 35.000 đồng/kg (kích cỡ 700 - 800g/con) ổn định so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng khoảng 12.000 đồng/kg; Giá thành bình quân 22.000 – 23.500 đồng/kg với giá này người nuôi lãi từ 10.000 -12.000 đ/kg (dự báo giá cá tra có chiều hướng tăng trở lại so với những tháng đầu năm). Nguyên nhân giá cá tra vẫn giữ ổn định khá cao từ đầu năm đến nay là do: sản lượng cá nguyên liệu đang khan hàng và trong thời gian qua, người dân và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra đã nâng cao trình độ sản xuất nuôi trồng và chế biến; thực hiện đúng quy hoạch và các quy chuẩn cụ thể cũng như đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật để vượt qua các rào cản thương mại nên tình hình xuất khẩu cá tra đã được thuận lợi và đi vào ổn định. Mặc dù giá cá tra đang ở mức khá cao nhưng thị trường chính hiện nay là Trung Quốc do đó các nhà quản lý nhà Nước khuyến cáo người chăn nuôi nên xem tình hình đừng vội đầu tư nuôi tràn lan, ảnh hưởng như các năm trước; Với tình hình giá cả như trên người nuôi cá tra hiện nay rất nhiều thuận lợi.

Hiện nay, có 113 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ. Cung cấp nhu cầu nuôi của thành phố và các tỉnh lân cận. Trong tháng giá cá tra giống dao động từ 68.000 – 70.000 đồng/kg ổn định so với tháng trước.

Ngành Nông nghiệp đưa nhiều tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất thông qua chương trình khuyến ngư năm 2018 với đối tượng đặc sản là Lươn và Cá Chạch lấu. Đơn vị đang hỗ trợ 19 hộ nuôi thả giống, hiện tại các mô hình trình diễn đang phát triển rất tốt như: Mô hình lươn sau hơn 4 tháng xuống giống, trọng lượng trung bình 35 – 45 gram/con; Mô hình cá chạch lấu hơn 4 tháng nuôi có trọng lượng trung bình khoảng 21 - 29 gram/con.

Hiện tại các công ty chế biến thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ có khuynh hướng xây dựng vùng nuôi tập trung để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến. Ngành Nông nghiệp đang chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa thủy sản. Đến nay, có 02 HTX nuôi cá tra với diện tích 27 ha; 43 hộ tham gia liên kết sản xuất với các nhà máy với diện tích 144 ha; 20 vùng nuôi của 07 doanh nghiệp tham gia nuôi cá tra với diện tích 169,7 ha và tổng diện tích nuôi thủy sản ATTP theo tiêu chuẩn đạt 228,5 ha, bao gồm: 214,75 ha VietGAP (trong đó có 17 ha BMP+ASC) và 13,5 ha BAP+ASC.

 

III. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

 

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ĐP quản lý

Tình hình thực hiện kế hoạch XDCB 11 tháng năm 2018 nhìn chung ổn định. Năm 2018 tình hình giá cả vật liệu xây dựng ít biến động, là điều kiện thuận lợi cho việc thi công các công trình xây dựng cơ bản.

Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 năm 2018779,54 tỷ đồng. Trong đó, vốn cân đối ngân sách thành phố là 78,25 tỷ đồng, vốn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu thực hiện được 8,93 tỷ đồng, nguồn vốn từ xổ số kiến thiết thực hiện là 88,13 tỷ đồng, vốn nước ngoài ODA thực hiện được 105,81 tỷ đồng, nguồn vốn khác thực hiện được 369,25 tỷ đồng, vốn ngân sách cấp huyện thực hiện 129,17 tỷ đồng.

Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 20185.155,93 tỷ đồng đạt 86,23% so kế hoạch đã điều chỉnh năm 2018. Trong đó, vốn cân đối ngân sách thành phố là 998,13 tỷ đồng, đạt 92,52% so kế hoạch đã điều chỉnh năm 2018. Vốn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu thực hiện được 258,38 tỷ đồng, đạt 98,24% so kế hoạch năm. Nguồn vốn từ xổ số kiến thiết thực hiện là 523,79 tỷ đồng, đạt 83,93% so kế hoạch năm. Vốn nước ngoài ODA thực hiện được 747,03 tỷ đồng, đạt 87,39% so với kế hoạch năm. Nguồn vốn khác thực hiện được 1.317,88 tỷ đồng, đạt 76,99% so với kế hoạch năm. Vốn ngân sách cấp huyện thực hiện 1.310,72 tỷ đồng, đạt 90,58% kế hoạch năm.

Tiến độ thi công các công trình thuộc nguồn vốn ngân sách trên địa bàn thành phố 11 tháng năm 2018 nhìn chung đạt yêu cầu so với kế hoạch đã điều chỉnh. Các nhà thầu, chủ đầu tư đang quyết liệt triển khai các dự án có kế hoạch thực hiện trong năm 2018.

* Tình hình thực hiện các công trình chủ yếu của thành phố

Dự án Phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị. Dự án được thực hiện bằng nguồn vố ODA, do Ban Quản lý Dự án ODA làm chủ đầu tư. Công trình có tổng mức đầu tư 7.339 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2018 được giao 1.622,11 tỷ đồng, trong đó vốn đối ứng là 394 tỷ đồng, vốn ODA (được cấp phát) là 578,11 tỷ đồng, vốn ODA (vay lại) là 650 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 11/2018 được 1.000,68 tỷ đồng, đạt 13,63% tổng mức đầu tư toàn dự án.

Dự án Nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long – Tiểu dự án thành phố Cần Thơ. Công trình có tổng mức đầu tư 2.097 tỷ đồng, dự án được thực hiện bằng nguồn vốn ODA, do Ban quản lý dự án ODA làm chủ đầu tư, kế hoạch vốn năm 2018 phân bổ 303,669 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến tháng 10/2018 thực hiện được 1.785,81 tỷ đồng, đạt 85,16% tổng mức đầu tư toàn dự án.

Dự án Kè sông Cần Thơ - Ứng phó biến đổi khí hậu thành phố Cần Thơ (Vốn AFD). Công trình có tổng mức đầu tư là 810,74 tỷ đồng, dự án do Ban quản lý dự án Thành phố Cần Thơ làm chủ đầu tư, kế hoạch vốn năm 2018 được giao là 150 tỷ đồng. Luỹ kế từ đầu dự án đến tháng 11/2018 thực hiện được 19,5 tỷ đồng, đạt 2,41% tổng mức đầu tư toàn dự án. Riêng tháng 11/2018 thực hiện được 1,29 tỷ đồng.

Dự án Trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm, Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Công trình có tổng mức đầu tư 106,85 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2018 được giao 31,38 tỷ đồng. Từ đầu năm đến cuối tháng 10/2018 thực hiện được 19,57 tỷ đồng đạt 62,36% kế hoạch năm. Hiện nay công trình đang giai đoạn xây dựng phòng học, chủ đầu tư và nhà thầu đang khẩn trương thi công để đảm bảo đúng tiến độ đề ra trong năm 2018.

Nhìn chung, từ đầu năm đến nay, đa số các công trình dự án đều đang triển khai và thực hiện quyết liệt để các dự án sớm hoàn thành đúng kế hoạch. Tuy nhiên, còn một số công trình, dự án chậm tiến độ, các chủ đầu tư và các sở, ngành tập trung tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra biện pháp khắc phục.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Ước 11 tháng năm 2018, cấp giấy chứng nhận đầu tư 05 dự án với vốn đầu tư 4,7 triệu USD; tăng vốn 01 dự án 30,6 triệu USD, chấm dứt hoạt động 03 dự án; lũy kế đến nay, thành phố có tổng số 79 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 686,36 triệu USD.

 

IV. THƯƠNG MẠI

 

1. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2018 giảm 0,23% so với tháng trước; tăng 2,47% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,52% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân cùng kỳ tăng 4,49%. Giá bình quân nhiên liệu xăng, dầu, chất đốt tháng 11 giảm mạnh so với tháng trước là nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá CPI tháng 11 giảm.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 4 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng với mức tăng từ 0,13% đến 0,22% so với tháng trước, cụ thể: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,20%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%.

Có 3 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm với mức giảm từ 0,04% đến 2,21% so với tháng trước, cụ thể: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,85%; Nhóm giao thông giảm 2,21%; Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04%.

Các nhóm hàng hóa, dịch vụ còn lại có giá ổn định so với tháng trước, chỉ số giá không đổi, gồm các nhóm sau: Đồ uống và thuốc lá; Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Văn hóa, giải trí và du lịch.

 

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 11 năm 2018 của một số nhóm hàng chính:

- Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+ 0,20%)

+ Lương thực (+ 0,07%)

Chỉ số giá lương thực tháng 11/2018 tăng nhẹ 0,07% so với tháng 10 là do giá khoai lang tại chợ tăng vì nguồn cung giảm, làm chỉ số giá nhóm bột mì và ngũ cốc tăng 1,98%. Giá các mặt hàng gạo trên địa bàn thành phố ổn định so với tháng trước.

Tại các chợ giá gạo Hàm Châu ở mức 11.000đ/kg - 12.500đ/kg, gạo Tài Nguyên giá 12.000đ/kg - 15.000đ/kg, gạo tẻ ngon thơm Đài Loan giá 15.500đ/kg - 16.500đ/kg, gạo Thơm Thái giá 14.000đ/kg - 16.000đ/kg, giá gạo nếp dao động từ 15.000đ/kg - 20.000đ/kg.

+ Thực phẩm (+ 0,30%)

Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,30% so với tháng trước do tác động tăng chủ yếu ở một số mặt hàng:

Giá thịt gia súc tươi sống tăng 0,07% so với tháng trước do giá thịt heo bình quân tăng 0,10% so với tháng 10/2018. Nguyên nhân giá heo hơi vẫn giữ ổn định ở mức cao so với tháng trước, mặc dù trong tháng giá heo hơi có giảm nhẹ 1.000-2.000 đồng/kg nhưng không tác động nhiều đến giá bán tại chợ do nhu cầu vẫn cao hơn cung.

Chỉ số giá các mặt hàng thủy sản chế biến tăng 0,32% do giá một số sản phẩm thủy sản đóng hộp tăng giá thời điểm các tháng cuối năm do chi phí nguyên liệu tăng.

Chỉ số giá các mặt hàng rau tươi, khô và chế biến tăng 4,40% so với tháng trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của thời tiết, trái mùa vụ nên nhiều loại rau, củ thu hoạch giảm sản lượng làm tăng giá tại các chợ, giá nhiều loại rau củ tăng mạnh như cà chua, su hào, rau muống, củ cải, đậu cove...

Chỉ số giá các mặt hàng quả tươi và chế biến tăng 0,48% so với tháng trước. Nguyên nhân do giá thanh long đang phục hồi trở lại sau khi giảm giá mạnh, nguồn thu hoạch thanh long đã giảm sau đợt thu hoạch rộ ở những tháng trước. Giá xoài cát Hòa Lộc cũng tăng cao do hết vụ, nguồn cung giảm mạnh trong khi nhu cầu của thị trường vẫn ổn định.

Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, nhóm thực phẩm cũng có các mặt hàng giảm giá như:

Chỉ số giá các loại thịt gia cầm tươi sống giảm 1,81%; trứng gia cầm các loại giảm 1,36%; thủy sản tươi sống giảm 0,46%; các loại đậu và hạt giảm 0,12%. Nguyên nhân do nguồn cung thủy sản, thịt gia cầm hơi xuất chuồng, nguồn cung trứng gia cầm tăng vì vào vụ thu hoạch nên sản lượng tăng lên, nhu cầu sử dụng trứng sau mùa trung thu giảm.

+ Ăn uống ngoài gia đình: Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình ổn định so với tháng trước.

- May mặc, mũ nón, giày dép (+ 0,13%)

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% so với tháng trước chủ yếu là do tác động giá dch vụ may mặc tăng 1,98%. Vào thời điểm các tháng cuối năm nhiều dịch vụ may quần, áo tăng giá tiền công do nhu cầu may quần, áo đang tăng dần trong thời điểm cuối năm.

- Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (-0,85%)

Chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng này giảm chủ yếu ở các mặt hàng sau:

Giá nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi giảm 0,18%, do nhu cầu sử dụng nhà ở thuê ở khu vực Bình Thủy giảm do giảm lượng sinh viên thuê trọ vì trường đại học chuyển khỏi địa bàn.

Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,08% chủ yếu do giá đá dăm 1x2 giảm nhẹ do nguồn cung tăng, trong khi đó giá xi măng lại tăng nhẹ do các công ty sản xuất xi măng điều chỉnh giá bán trong Quý IV/2018 vì chi phí nguyên liệu đầu vào tăng.

Nước sinh hoạt giảm 0,19% so với tháng trước do thời tiết chuyển mùa nhu cầu sử dụng trong tháng giảm so với tháng trước.

Giá gas trong nước điều chỉnh giảm 40.000đ/bình 12kg kể từ ngày 01/11/2018, giảm 10,29% so với tháng 10/2018, do giá gas thế giới giảm 122,5 USD/tấn xuống mức 540 USD/tấn.

Giá dầu hỏa bình quân tháng 11/2018 giảm 1,03% so với tháng trước do ảnh hưởng bởi đợt điều chỉnh giảm giá ngày 21/11/2018 giảm 840đ/lít.

Riêng giá điện sinh hoạt tăng 0,25% do nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt tại khu vực thành thị tăng cao, thời tiết ít mưa, nắng nóng hơn so với tháng trước.

- Thiết bị và đồ dùng gia đình (+ 0,18%)

Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18% so với tháng trước chủ yếu là do nhóm đồ dùng trong nhà tăng 0,22%. Nguyên nhân nhiều mặt hàng đồ dùng trong gia đình tăng giá trước nhu cầu mua sắm dịp cuối năm đang tăng lên như đồ điện trong nhà, đồng hồ, gương treo tường, đồ dùng nấu ăn...

- Giao thông (- 2,21%)

Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,21% so với tháng trước, đây là nhóm có chỉ số giảm nhiều nhất trong 11 nhóm hàng chính, chủ yếu là do tác động của nhóm mặt hàng xăng, dầu diezen giảm 4,19% so với tháng trước. Ngày 06/11/2018 với giá xăng A95 giảm 1.140đ/lít, giá xăng E5 giảm 1.080đ/lít, giá dầu diezen giảm 70đ/lít và điều chỉnh giảm vào ngày 21/11/2018 với giá xăng A95 giảm 1.090đ/lít, giá xăng E5 giảm 980 đ/lít, giá dầu diezen giảm 910đ/lít, tổng cộng giá xăng A95 giảm 2.230đ/lít, giá xăng E5 giảm 2.060đ/lít, giá dầu diezen giảm 980đ/lít. Riêng mặt hàng dầu nhờn đóng hộp tăng giá nhẹ tại khu vực nông thôn.

Các mặt hàng khác trong nhóm có giá ổn định so với tháng trước.

- Bưu chính viễn thông (-0,04%)

Chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04% so với tháng trước do tác động giảm giá của nhóm máy điện thoại di động. Giá một số mẫu điện thoại di động giảm giá do một số cửa hàng thực hiện khuyến mãi giảm giá.

- Hàng hóa và dịch vụ khác (+ 0,22%)

Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22% so với tháng trước chủ yếu là do tác động ở một số mặt hàng, dịch vụ như: đồ dùng cá nhân tăng 0,57% so với tháng trước do một số mặt hàng chăm sóc cơ thể, đồ trang sức vàng tăng giá; dịch vụ về hỉ tăng 1,70% so với tháng trước, nguyên nhân do nhu cầu mùa cưới đang tăng cao nên các dịch vụ cho thuê áo cưới cũng tăng giá.

- Chỉ số giá vàng (+1,29%)

Chỉ số giá vàng tăng 1,29% so với tháng trước. Giá vàng thế giới tăng mạnh do đồng USD giảm giá trước những tín hiệu chính sách từ Mỹ và những quan ngại dần lớn hơn về triển vọng kinh tế thế giới trong thời gian tới. Giá vàng 99,99% ngày 21/11/2018 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 3.520.000đ/chỉ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,06%)

Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,06% so với tháng trước. Tỷ giá ngoại tệ trong tháng giảm do giá đô la Mỹ trên thị trường thế giới giảm điểm. Tỷ giá bán ra ngày 21/11/2018 trên địa bàn là 23.380 đồng/USD.

 

2. Nội thương

Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ cá thể trên địa bàn TP. Cần Thơ 11 tháng nhìn chung phát triển khá tốt. Trong 11 tháng đầu năm 2018 doanh thu bán lẻ tăng mạnh ở các nhóm lương thực thực phẩm, hàng may mặc, vật phẩm văn hóa giáo dục và vật liệu xây dựng. Trong tháng 11, trên đại bàn TP Cần Thơ diễn ra nhiều hoạt động mua bán thương mại sôi nổi tại các Hội chợ nông nghiệp, tuần lễ giao lưu văn hóa Việt Nam – Nhật Bản, ngoài ra các chương trình giảm giá khuyến mãi vào dịp cuối năm tại các trung tâm thương mại, siêu thị thu hút được rất nhiều người dân.

Ước tháng 11/2018, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 10.218,93 tỷ đồng tăng 13,20% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 6.119,81 tỷ đồng tăng 13,18% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể đạt 2.870,76 tỷ đồng tăng 14,53% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước đạt 1.023,13 tỷ đồng tăng 10,22% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 82,32% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 11/2018 đạt 8.411,79 tỷ đồng tăng 13,70% so cùng kỳ. Khách sạn nhà hàng ước đạt 809,16 tỷ đồng tăng 14,79% so cùng kỳ. Du lịch lữ hành ước đạt 22,75 tỷ đồng tăng 15,04% so cùng kỳ. Dịch vụ ước đạt 975,23 tỷ đồng tăng 7,86% so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn Thành phố ước tính 11 tháng năm 2018 đạt 110.570,89 tỷ đồng tăng 12,28% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân ước đạt 66.274,25 tỷ đồng tăng 11,60% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể ước đạt 30.462,40 tỷ đồng tăng 14,28% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước ước đạt 11.570,27 tỷ đồng tăng 11,60% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 82,76% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 11 tháng năm 2018, ước đạt 91.508,48 tỷ đồng tăng 12,40% so cùng kỳ; Khách sạn nhà hàng ước đạt 8.180,41 tỷ đồng tăng 12,61% so cùng kỳ. Du lịch lữ hành ước đạt 356,35 tỷ đồng tăng 10,0% so cùng kỳ. Dịch vụ ước đạt 10.525,66 tỷ đồng tăng 11,0% so với cùng kỳ.

 

V. GIAO THÔNG VẬN TẢI

1. Vận tải hàng hoá: Tháng 11/2018, ước vận chuyển 1.212,43 ngàn tấn hàng hoá tăng 1,56% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 216,52 triệu T.Km đạt 101,49% so cùng kỳ. Ước 11 tháng năm 2018 vận chuyển 11.237,71 ngàn tấn hàng hóa tăng 1,61% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 1.985,72 triệu T.Km đạt 101,45% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 11/2018, ước vận chuyển đạt 489,88 ngàn tấn tăng 1,62% so cùng kỳ; luân chuyển 112,41 triệu T.Km đạt 101,60% so cùng kỳ. Đường sông ước vận chuyển đạt 696,45 ngàn tấn tăng 1,52% so cùng kỳ; luân chuyển 76,89 triệu T.Km đạt 101,4% so cùng kỳ. Đường biển ước vận chuyển đạt 26,10 ngàn tấn tăng 1,64% so cùng kỳ; luân chuyển 27,22 triệu T.Km đạt 101,31% so cùng kỳ.

2. Vận tải hành khách: Tháng 11/2018, ước vận chuyển 3.259,79 ngàn lượt hành khách tăng 1,68% so cùng kỳ; luân chuyển 46,54 triệu lượt HK.Km đạt 101,42% so cùng kỳ. Ước 11 tháng năm 2018 vận chuyển 28.135,05 ngàn lượt HK tăng 1,63% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 410,54 triệu HK.Km đạt 101,43% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 11/2018, ước vận chuyển 1.757,07 ngàn lượt HK tăng 1,71% so cùng kỳ; luân chuyển 44,27 triệu HK.Km đạt 101,43% so cùng kỳ. Đường sông ước vận chuyển 1.502,72 ngàn lượt HK tăng 1,65% so cùng kỳ; luân chuyển 2,28 triệu HK.Km đạt 101,34% so cùng kỳ.

3. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Tháng 11/2018 doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước thực hiện 389,32 tỷ đồng, tăng 7,5% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 89,54 tỷ đồng tăng 7,31%; vận tải hàng hóa thực hiện 211,37 tỷ đồng, tăng 7,56%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 88,41 tỷ đồng, tăng 7,53% so cùng kỳ.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 11 tháng năm 2018 thực hiện 2.950,25 tỷ đồng, tăng 7,39% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 675,20 tỷ đồng tăng 7,38%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.651,14 tỷ đồng, tăng 7,43%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 623,90 tỷ đồng, tăng 7,29% so cùng kỳ.

 

VI. NGÀNH TÀI CHÍNH - TÍN DỤNG

1. Tài chính ngân sách

* Thu ngân sách: Thực hiện đến 20 ngày tháng 11/2018, tổng thu NSNN 11.074,64 tỷ đồng đạt 77,37% dự toán, trong đó thu nội địa là 8.802,66 tỷ đồng với các nguồn thu chủ lực như thu thuế khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 1.774,14 tỷ đồng đạt 73,46% dự toán, thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.448,84 tỷ đồng đạt 86,84% so dự toán, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 922,15 tỷ đồng đạt 55,23% so dự toán, thuế thu nhập cá nhân 697,40 tỷ đồng đạt 91,16% so dự toán. Tính đến 20/11/2018 hoạt động thu thuế hải quan ước đạt 1.003,09 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 9,06% trong tổng thu ngân sách nhà nước và đạt 96,82% so dự toán.

* Chi ngân sách: Ước đến 20 ngày tháng 11/2018 ngân sách đã chi 8.704,71 tỷ đồng chiếm 73,06% dự toán, bao gồm hoạt động chi đầu tư phát triển 4.147,05 tỷ đồng, chi thường xuyên 4.487,77 tỷ đồng.

2. Tín dụng ngân hàng

Vốn huy động đến cuối tháng 11 năm 2018 ước đạt 71.100 tỷ đồng, tăng 1,02% so với đầu tháng, tăng 7,78% so với đầu năm. Trong đó, vốn huy động VNĐ là 69.300 tỷ đồng, chiếm 97,47%, tăng 0,94%, vốn huy động ngoại tệ là 1.800 tỷ đồng, chiếm 2,53%, tăng 4,17% so với đầu tháng; vốn huy động ngắn hạn là 44.900 tỷ đồng chiếm 63,15%, tăng 1,06%, vốn huy động trên 12 tháng là 26.200 tỷ đồng chiếm 36,85%, tăng 0,95% so với đầu tháng.

Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 11 năm 2018 ước đạt 76.600 tỷ đồng, tăng 0,98% so với đầu tháng, tăng 13,36% so với đầu năm. Trong đó dư nợ cho vay VNĐ đạt 71.900 tỷ đồng, tăng 0,89% so đầu tháng, chiếm 93,86% trong tổng dư nợ cho vay, dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 4.700 tỷ đồng, tăng 2,4% so với đầu tháng, chiếm 6,14% trong tổng dư nợ cho vay; Phân theo thời hạn dư nợ cho vay ngắn hạn là 42.100 tỷ đồng, tăng 1,02% so đầu tháng, chiếm 54,96%, dư nợ cho vay trung dài hạn 34.500 tỷ đồng, tăng 0,94% so đầu tháng, chiếm 45,04% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu đến cuối tháng 11 năm 2018 ước 1.650 tỷ đồng, chiếm 2,15% trong tổng dư nợ cho vay.

Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất trên địa bàn phổ biến như sau:

 

- Lãi suất huy động: Lãi suất huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến mức 0,3 - 1,0%/năm; lãi suất huy động có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,6% - 5,5%/năm; lãi suất huy động từ 6 đến 12 tháng phổ biến 5,3% - 6,5%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở mức 6,6% - 7,5%/năm tùy theo từng loại kỳ hạn. 

 

- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 6,5%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến từ 7,0% - 9,0%/năm đối với ngắn hạn, 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn.

- Lãi suất USD: Lãi suất huy động thực hiện theo quy định là 0%/năm. Lãi suất cho vay phổ biến ngắn hạn 3,0% - 4,5%/năm, trung dài hạn 5,0% - 6,5%/năm.

 

VII. TÌNH HÌNH VĂN HOÁ - XÃ HỘI 

 

1. Văn hóa – Thể thao

Nghệ thuật:

Trung tâm Văn hóa thành phố: Tổ chức Liên hoan Giọng ca “Mộc quán - Nguyễn Trọng Quyền” thành phố Cần Thơ năm 2018, kết quả: trao 01 giải Nhất, 04 giải Nhì, 06 giải Ba, 10 giải Khuyến khích, 15 giải phụ và 09 giải tích cực tham gia. Tham gia Hội diễn Đàn hát dân ca 3 miền trong khuôn khổ Năm Du lịch quốc gia tại tỉnh Quảng Ninh, kết quả: đạt 01 HCV chương trình, 02 HCV và 04 HCB tiết mục.

Nhà hát Tây Đô tổ chức biểu diễn 12 cuộc, thu hút 5.700 lượt người xem.

 

Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc

Các di tích lịch sử - văn hóa đã xếp hạng trên địa bàn thành phố, hoạt động giáo dục truyền thống, di sản văn hóa trong học đường và triển lãm ảnh, thu hút 33.908 lượt người xem. Xây dựng Kế hoạch phối hợp giáo dục truyền thống và di sản văn hóa trong học đường năm học 2018 - 2019 với 15 trường. Tổ chức Đoàn tham quan di tích LS-VH Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tại tỉnh Bạc Liêu, để sưu tầm tư liệu, hình ảnh, hiện vật về soạn giả Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền.

Thể thao quần chúng: Ban hành Điều lệ, kế hoạch tổ chức Giải Bóng đá TP. Cần Thơ năm 2018, trong khuôn khổ “Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch quận Ô Môn - Đại đoàn kết các dân tộc TP. Cần Thơ, lần thứ II - năm 2018”. Phối hợp Tổng cục Thể dục thể thao chuẩn bị kế hoạch tổ chức Giải Lân Sư Rồng toàn quốc năm 2019.

Thể thao thành tích cao: Tổ chức Lễ xuất quân Đoàn Thể thao thành phố Cần Thơ với 135 vận động viên, 29 huấn luyện viên, 19 môn (bóng rổ, điền kinh, boxing, vovinam, bơi, billards và snooker, judo, xe đạp, thể dục thể hình và finess, taekwondo, quần vợt, cầu mây, karate, cờ vua, cầu lông, bóng chuyền bãi biển, petanque, canoing) tham dự Đại hội Thể thao toàn quốc năm 2018, tại Hà Nội, từ ngày 15/11/2018 – 10/12/2018.

Cử VĐV Trần Tiến Khoa tham dự Giải Quyền Taekwondo vô địch thế giới, tại Đài Loan.

 

2. Giáo dục

Tổ chức kiểm tra nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ năm học và chuẩn bị thủ tục đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch năm 2019. Chỉ đạo và theo dõi việc tổ chức kiểm tra giữa học kỳ I năm học 2018 - 2019. Tổ chức Hội thao Giáo dục Quốc phòng - An ninh học sinh, sinh viên thành phố Cần Thơ lần thứ X - năm 2018.

Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao chào mừng kỷ niệm 36 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2018); tổ chức Họp mặt nhân ngày Nhà giáo Việt Nam.

Tính đến ngày 10 tháng 11 năm 2018, ngành giáo dục đã phối hợp với các sở, ngành có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố kiểm tra công nhận 18 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia (07 trường mầm non, 05 trường tiểu học, 04 trường trung học cơ sở và 02 trường trung học phổ thông), đạt tỷ lệ 78,26% chỉ tiêu năm 2018. Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 298/461 trường (không tính Trường Dạy trẻ khuyết tật), tỷ lệ 64,64%, trong đó, mầm non 106/183 trường, tỷ lệ 57,92%; tiểu học 124/177 trường (không tính Trường Dạy trẻ khuyết tật), tỷ lệ 70,05%; trung học cơ sở 49/67 trường, tỷ lệ 73,13%; trung học phổ thông 19/34 trường, tỷ lệ 55,88%.

 

3. Về Y tế - khám chữa bệnh

Tình hình dịch bệnh ổn định, không có vụ dịch nguy hiểm xảy ra. Tuy nhiên trong tháng một số bệnh như: Sốt xuất huyết ghi nhận 125 trường hợp mắc, giảm 14,38% so với tháng trước (146 trường hợp); lũy tích từ đầu năm đến nay 916 trường hợp mắc, giảm 15,26% so cùng kỳ (1081 cas), không có tử vong. Tay chân miệng ghi nhận 327 trường hợp mắc, tăng 12,37% so với tháng trước (291 trường hợp); lũy tích từ đầu năm 2018 đến nay ghi nhận 973 trường hợp mắc, tăng 17,37% so cùng kỳ (829 cas), không có tử vong. Thủy đậu ghi nhận 02 trường hợp mắc giảm 02 ca so với tháng trước; lũy tích từ đầu năm đến nay 43 trường hợp mắc, tăng 08 trường hợp so với cùng kỳ 2017. Tiêu chảy 402 ca, tăng 10,74% so với tháng trước.

 

Công tác phòng, chống HIV/AIDS:

Ban hành Kế hoạch tổ chức Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2018 (từ ngày 10/11 đến ngày 10/12/2018) đồng thời tổ chức Hội nghị triển khai Tháng hành động quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS năm 2018 vào ngày 09/11/2018.

Đến thời điểm báo cáo, tổng số người nhiễm HIV phát hiện được 6.031 người, trong đó tử vong 2.438 người, số người nhiễm HIV còn sống là 3.593 người. Thành phố có 2.716 người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV, duy trì 419 người điều trị Methadone.

Công tác khám chữa bệnh: Các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc thực hiện tốt quy chế chuyên môn, đảm bảo các quy trình kỹ thuật trong khám chữa bệnh đồng thời tăng cường công tác khám chữa bệnh và quản lý quỹ BHYT.

Triển khai thực hiện các quy định liên quan khám, chữa bệnh và BHYT: Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế; Quyết định số 6556/QĐ - BYT ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Bộ Y tế về việc ban hành mẫu bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Quyết định số 6437/QĐ-BYT ngày 25 tháng 10 năm 2018 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn tẩy giun đường ruột tại cộng đồng; Thông tư số 27/2018/TT-BYT ngày 26 tháng 10 năm 2018 của Bộ Y tế về việc Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế và khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế liên quan đến HIV/AIDS.

Triển khai Bộ chỉ số đo lường chất lượng dịch vụ chăm sóc mắt.

Phục vụ y tế Hoạt động kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hà Lan tại thành phố Cần Thơ (từ ngày 09/11/2018 - 10/11/2018); Hoạt động kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản tại thành phố Cần Thơ (Từ ngày 02/11/2018 - 04/11/2018); Giải Việt Dã “Cùng Sacombank chạy vì sức khỏe cộng đồng” năm 2018; hội thao các cơ sở giáo dục nghề nghiệp toàn quốc lần thứ I năm 2018; hội trại Học viên Chính trị khu vực IV.

 

          4. Chính sách lao động - xã hội

Trong tháng, toàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 5.356 người, lũy kế từ đầu năm đã giải quyết việc làm cho 63.132 lao động, đạt 125% chỉ tiêu kế hoạch năm, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2017 (có 186 người đi làm việc ở nước ngoài).

Về công tác quản lý lao động người nước ngoài, đã tiếp nhận và thẩm định 07 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động mới cho 12 trường hợp; xác nhận miễn cấp giấy phép lao động cho 08 trường hợp của 04 đơn vị. Trình UBND thành phố chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động người nước ngoài của 05 doanh nghiệp.

Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố: Kết nối việc làm trong nước cho 2.046 lượt người, đào tạo nghề và kỹ năng cho 559 lượt người; tổ chức các phiên giao dịch việc làm hàng ngày. Tổ chức tư vấn nghề nghiệp, việc làm và quan hệ lao động cho 11.612 lượt người, với các hoạt động chính như: tư vấn đi học tập nước ngoài theo hợp đồng chuyên ngành điều dưỡng cho học sinh, sinh viên các trường, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; Ngày hội việc làm cho phụ nữ thành phố Cần Thơ; Ngày gặp gỡ nhà tuyển dụng dành cho người thất nghiệp; Phiên giao dịch việc làm trực tuyến đồng bằng sông Cửu Long đợt 3; các lớp kỹ năng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng làm việc, tìm việc; 06 lớp kỹ năng nghề nghiệp cho thanh niên trong khuôn khổ dự án Kỹ năng thành công; Phối hợp Công ty TNHH Taekwang Cần Thơ tổ chức 01 lớp Kỹ năng làm việc và giáo dục tài chính cho lao động trẻ đang làm việc trong doanh nghiệp; Tổ chức “Buổi nói chuyện chuyên đề hướng nghiệp cho các trường phổ thông” và các hoạt động khác.

Công tác dạy nghề: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) tuyển mới và đào tạo cho 3.096 người; lũy kế từ đầu năm đã đào tạo cho 44.085 người, đạt 95% chỉ tiêu kế hoạch năm 2018, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2017. Thực hiện theo dõi, giám sát, dự bế giảng các lớp dạy nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) năm 2018 (đã khai giảng 100% các lớp đào tạo nghề cho LĐNT theo kế hoạch đề ra và bế giảng 120 lớp).

Phối hợp Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp tổ chức thành công Hội thao các cơ sở GDNN toàn quốc tại Cần Thơ năm 2018 với kết quả Đoàn Cần Thơ đạt Giải I toàn đoàn với 08 huy chương vàng, 07 huy chương bạc, 15 huy chương đồng. Xây dựng Kế hoạch và các quyết định thành lập Ban Tổ chức, các tiểu ban Hội thi thiết bị tự làm thành phố năm 2018. Tổ chức Hội nghị tổng kết giáo dục nghề nghiệp năm 2018 và chào mừng ngày Nhà giáo Việt nam 20/11.

Thực hiện chính sách người có công với cách mạng: Toàn thành phố hiện có 6.773 đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi thường xuyên (trong đó: 49 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng và được các đơn vị nhận phụng dưỡng). Tiếp nhận, xét duyệt và giải quyết 97 hồ sơ chế độ chính sách.

Tổ chức đưa 33 người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại Phan Thiết (Đợt 6). Tổ chức đoàn công tác đi học tập kinh nghiệm tại Đà Nẵng.

 

Phối hợp Bộ chỉ huy quân sự thành phố Cần Thơ sơ kết thực hiện Đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin giai đoạn 2017- 2018; tổ chức quy tập 01 hài cốt liệt sĩ tại xã Trường Long, huyện Phong Điền về Nghĩa trang liệt sĩ quận Ô Môn. Cùng Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội (SHB) và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận, huyện bổ sung các thủ tục cần thiết để tiến hành xây dựng 26 căn nhà tình nghĩa tại các địa phương.

 

 

Công tác bảo trợ xã hội - Trẻ em và bình đẳng giới

Trợ cấp thường xuyên cho 38.761 đối tượng bảo trợ xã hội ở ngoài cộng đồng với tổng kinh phí 14.490 triệu đồng. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chi trả trợ cấp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội tại quận Ô Môn và huyện Phong Điền. Kiểm tra việc thực hiện rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo các quận, huyện. Phối hợp Cục Bảo trợ xã hội tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác xã hội trong trợ giúp đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp.

Trung tâm Bảo trợ xã hội đang quản lý 585 đối tượng. Hướng dẫn, tư vấn cho thân nhân, gia đình có nhu cầu bảo lãnh về gia đình tiếp tục quản lý và điều trị trên 130 lượt người. Tình hình an ninh, trật tự được giữ vững ổn định, duy trì việc tuần tra, kiểm tra đảm bảo trực gác 24/24 giờ; Kịp thời can thiệp 32 vụ đối tượng đánh nhau, phối hợp với y tế ngăn chặn 17 đối tượng lên cơn kích động, giáo dục 03 trường hợp đối tượng vi phạm nội quy. Đảm bảo việc cung cấp lương thực, thực phẩm và tổ chức nấu ăn hàng ngày cho đối tượng đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Duy trì vệ sinh phòng ở, vệ sinh cá nhân hằng ngày cho đối tượng. Tổ chức phục hồi chức năng cho đối tượng bằng nhiều hình thức. Tổ chức vui chơi, giải trí cho đối tượng vào thứ 5 hàng tuần. Hướng dẫn tập vật lý trị liệu với các trang thiết bị phục hồi chức năng được trang bị có 655 lượt tham gia, lao động sản xuất luôn được duy trì. Khám, điều trị bệnh thông thường 957 lượt, điều trị bệnh theo toa cho 300 lượt; Khám và chỉnh liều thuốc tâm thần 34 đối tượng; Kịp thời chuyển viện bệnh nặng vượt khả năng điều trị 08 trường hợp, nằm viện 08 lượt.

Trung tâm Công tác xã hội đang nuôi dưỡng trực tiếp 82 đối tượng. Phối hợp UBND phường Hưng Lợi hoàn tất thủ tục 02 trẻ được nhận làm con nuôi trong nước. Tiếp nhận các cuộc gọi đến Tổng đài tư vấn miễn phí 18008065 về các vấn đề con nuôi, công tác từ thiện thăm hỏi đối tượng, cho quần áo cũ, dịch vụ điều trị methadone. Thực hiện 04 buổi truyền thông, giáo dục kỹ năng sống cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt; 07 buổi sinh hoạt định kỳ cho các thành viên của CLB Tuổi hồng; Thực hiện 6 cuộc truyền thông bồi dưỡng kỹ năng tự bảo vệ, phổ biến Luật Trẻ em 2016, phòng chống xâm hại, bạo hành trẻ em cho học sinh 6 trường THCS; 6 cuộc truyền thông nâng cao kỹ năng cho đối tượng là phụ huynh, giáo viên, người chăm sóc thay thế trẻ em ở các địa bàn trọng điểm. Đảm bảo thực hiện tốt công tác phòng dịch bệnh: thực hiện tẩy trùng, diệt khuẩn cho các phòng ở của đối tượng 2 lần/ tuần. Việc thăm, khám và điều trị bệnh thông thường cho trẻ được thực hiện thường xuyên, trong tháng khám và điều trị tại chỗ cho 450 lượt đối tượng; đưa 01 đối tượng đi khám và điều trị bệnh tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ. Duy trì tập vật lý trị liệu cho 12 đối tượng tại Trung tâm.

5. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông thành phố Cần Thơ tình hình tai nạn giao thông (từ ngày 16/10/2018 đến 15/11/2018) trên địa bàn thành phố đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người, bị thương 04 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tăng 01 vụ, số người chết tăng 03 người, số người bị thương giảm 01 người. 11 tháng năm 2018, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 93 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 99 người, bị thương 33 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tăng 13 vụ, số người chết tăng 13 người, số người bị thương giảm 05 người.

                                                                                                                                         CỤC THỐNG KÊ TP. CẦN THƠ

Các biểu số liệu:


01. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Xem
02. Chi ngân sách nhà nước địa phương Xem
03. Sản xuất nông nghiệp đến ngày 14/11/2018 Xem
04. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Xem
05. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Xem
06. Số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới Xem
07. Vốn đăng ký và vốn bổ sung của dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới Xem
08. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội Xem
09. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Xem
10. Vận tải hành khách của địa phương Xem
11. Vận tải hàng hóa của địa phương Xem
Các tin khác
Tình hình KT-XH tháng 08 năm 2019 - 27/08/2019
Tình hình KT-XH tháng 07 năm 2019 - 27/07/2019
Tình hình KT-XH tháng 06 năm 2019 - 26/06/2019
Tình hình KT-XH tháng 05 năm 2019 - 23/05/2019
Tình hình KT-XH tháng 04 năm 2019 - 25/04/2019
Tình hình KT-XH tháng 03 năm 2019 - 27/03/2019
Tình hình KT-XH tháng 02 năm 2019 - 25/02/2019
Tình hình KT-XH tháng 01 năm 2019 - 25/01/2019
Tình hình KT-XH tháng 12 năm 2018 - 28/12/2018
Tình hình KT-XH tháng 10 năm 2018 - 26/10/2018
Thông báo
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 3/2019
Quyết định số 03/QĐ-CTK ngày 18/01/2019 của Cục trưởng Cục Thống kê thành phố Cần Thơ v/v phân công công tác của Lãnh đạo Cục Thống kê thành phố Cần Thơ
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 02/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2019
10 Luật có hiệu lực từ 01/01/2019
Nghị định số 103/2018/NĐ-CP ngày 07/8/2018 của Chính phủ Quy định một số cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, ngân sách và phân cấp quản lý đối với thành phố Cần Thơ
Lịch nghỉ lễ, Tết năm 2019
Nghị định số 85/2017/NĐ-CP ngày 19/7/2017 quy định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thống kê tập trung và thống kê bộ, cơ quan ngang bộ
Tin video
Đang online: 8922
Hôm nay: 2611
Hôm qua: 13934
Tuần này: 2611
Tuần trước: 85255
Tháng này: 316614
Tháng trước: 331994
Tất cả: 4499665
Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Điện thoại: (0710) 3734 641 Email: cantho@gso.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Lê Ngọc Bảy - Cục trưởng Cục Thống kê TP. Cần Thơ