Chào mừng quý khách đã đến với Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP.Cần Thơ - Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Trang chủ
Giới thiệu>
Tin tức sự kiện>
Lĩnh vực chuyên môn>
Ấn phẩm thống kê
Văn bản>
Liên hệ
Sơ đồ
Tình hình KT-XH
Tình hình KT-XH tháng 9 năm 2018 (27/09/2018)

Trong 9 tháng năm 2018, các cấp, các ngành trên địa bàn thành phố Cần Thơ có nhiều nỗ lực thực hiện các chỉ tiêu đạt kế hoạch và tăng cao so cùng kỳ. Kinh tế tiếp tục giữ đà tăng trưởng, nhiều lĩnh vực chủ lực chuyển biến tích cực, tăng khá so cùng kỳ. Các doanh nghiệp tích cực cơ cấu lại sản xuất phù hợp tình hình mới; khai thác tốt thị trường xuất khẩu truyền thống đối với mặt hàng nông, thủy sản; sản xuất nông nghiệp chuyển đổi sang các mô hình hiệu quả; phát triển chăn nuôi, thủy sản theo hướng nông nghiệp đô thị, có giá trị kinh tế. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tiếp tục ổn định, cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực. Công tác giáo dục và đào tạo, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm và đạt kết quả tích cực. Hoạt động văn hóa nghệ thuật, thông tin, tuyên truyền với tinh thần thiết thực, phù hợp với nếp sống văn minh, truyền thống văn hóa của dân tộc, chất lượng từng bước được nâng lên. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

1. Tài chính - Ngân hàng

a. Tài chính ngân sách

* Thu ngân sách: Thực hiện đến 20 ngày tháng 9/2018, tổng thu NSNN 8.741,48 tỷ đồng đạt 61,12% dự toán, trong đó thu nội địa là 7.136,22 tỷ đồng với các nguồn thu chủ lực như thu thuế khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 1.385,21 tỷ đồng đạt 57,36% dự toán, thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.174,31 tỷ đồng đạt 70,39% so dự toán, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 718,67 tỷ đồng đạt 43,04% so dự toán, thuế thu nhập cá nhân 585,46 tỷ đồng đạt 76,53% so dự toán. Tính đến 20/9/2018 hoạt động thu thuế hải quan ước đạt 830,56 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 9,5% trong tổng thu ngân sách nhà nước và đạt 80,17% so dự toán.

* Chi ngân sách: Ước đến 20 ngày tháng 9/2018 ngân sách đã chi 6.716,94 tỷ đồng chiếm 56,38% dự toán, bao gồm hoạt động chi đầu tư phát triển 3.052,04 tỷ đồng, chi thường xuyên 3.628,44 tỷ đồng.

b. Tín dụng ngân hàng

Vốn huy động đến cuối tháng 9 năm 2018 ước đạt 70.900 tỷ đồng, tăng 7,48% so với đầu năm. Trong đó, vốn huy động VNĐ là 69.000 tỷ đồng, chiếm 97,32%, tăng 7,58%, vốn huy động ngoại tệ là 1.900 tỷ đồng, chiếm 2,68%, tăng 3,94% so với đầu năm; vốn huy động ngắn hạn là 44.400 tỷ đồng, chiếm 62,62%, tăng 6,89%, vốn huy động trên 12 tháng là 26.500 tỷ đồng, chiếm 37,38%, tăng 8,48% so với đầu năm.

Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 9 năm 2018 ước đạt 74.800 tỷ đồng, tăng 10,70% so với đầu năm. Trong đó dư nợ cho vay VNĐ đạt 69.500 tỷ đồng, tăng 11,45%, chiếm 92,91% trong tổng dư nợ cho vay, dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 5.300 tỷ đồng, tăng 1,73% so với đầu năm, chiếm 7,09% trong tổng dư nợ cho vay; Phân theo thời hạn dư nợ cho vay ngắn hạn là 41.000 tỷ đồng, tăng 6,57%, chiếm 54,81%, dư nợ cho vay trung dài hạn 33.800 tỷ đồng, tăng 16,16% so với đầu năm, chiếm 45,19% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu đến cuối tháng 9 năm 2018 ước 1.500 tỷ đồng, chiếm 2,01% trong tổng dư nợ cho vay.

Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất trên địa bàn phổ biến như sau:

 

- Lãi suất huy động: Lãi suất huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến mức 0,3 - 1,0%/năm; lãi suất huy động có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,6% - 5,5%/năm; lãi suất huy động từ 6 đến 12 tháng phổ biến 5,3% - 6,5%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở mức 6,6% - 7,5%/năm tùy theo từng loại kỳ hạn. 

 

- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 6,5%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến từ 7,0% - 9,0%/năm đối với ngắn hạn, 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn.

- Lãi suất USD: Lãi suất huy động thực hiện theo quy định là 0%/năm. Lãi suất cho vay phổ biến ngắn hạn 3,0% - 4,5%/năm, trung dài hạn 5,0% - 6,5%/năm.

2. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2018 tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,63% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân cùng kỳ tăng 4,51%. Giá gas tăng, giá xăng dầu tăng, giá thực phẩm tăng, giá học phí tăng trong năm học mới 2018-2019 là những nguyên nhân chính làm tăng chỉ số giá CPI tháng này.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 4 nhóm hàng có chỉ số giá giảm với mức giảm từ 0,01% đến 0,74% so với tháng trước, có 4 nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng với mức tăng từ 0,13% đến 9,15% so với tháng trước.

Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giảm gồm: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,07%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,74%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,47%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%.

Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,57%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%; Giao thông tăng 0,94%; Giáo dục tăng 9,15%.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 9 và 9 tháng năm 2018 của các nhóm hàng chính

- Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

+ Lương thực

Chỉ số giá lương thực tháng 9 giảm 0,01% so với tháng trước. Giá các mặt hàng gạo ổn định so với tháng trước nhưng giá khoai lang giảm nhẹ đã tác động làm cho chỉ số giá nhóm lương thực tháng 9 giảm so với tháng trước.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng của nhóm lương thực so với cùng kỳ tăng 5,84%. Nguyên nhân do giá lúa, giá gạo xuất khẩu tăng hơn so với năm trước, lượng gạo xuất khẩu cũng tăng mạnh đầu năm đến nay đã tác động đến giá gạo tiêu thụ trong nước.

+ Thực phẩm

Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,68% so với tháng trước do nhóm mặt hàng thịt gia súc tươi sống tăng 2,50%; thủy sản tươi sống tăng 1,13%; các loại đậu và hạt tăng 0,66%; quả tươi, chế biến tăng 1,95% so với tháng trước. Nguyên nhân là do giá heo hơi tăng trở lại. Mưa, bão, triều cường gây ngập úng đất sản xuất, chi phí nuôi trồng, đánh bắt tăng lên đã làm giá thủy sản tươi sống, giá đậu, hạt các loại, giá một số mặt hàng rau tươi tại các chợ tăng. Một số mặt hàng trái cây hết vụ làm cho giá tại các chợ tăng lên như xoài cát Hòa Lộc, táo, khóm, dưa hấu...

Các nhóm thực phẩm khác trong tháng giảm so với tháng trước gồm: Thịt gia cầm tươi sống giảm 0,46%; trứng các loại giảm 2,17%; rau tươi, khô và chế biến giảm 0,84%. Nguyên nhân là do giá vịt hơi tại các hộ chăn nuôi giảm do lượng vịt trong thời kỳ thu hoạch đang tăng lên. Giá một số sản phẩm rau từ Đà Lạt cũng giảm giá do nguồn cung tăng lên như bắp cải, cà chua, củ cải, cà rốt..., giá trứng giảm do nhu cầu tiêu thụ trứng cho mùa Trung Thu giảm, nguồn cung về các chợ tăng lên.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng nhóm thực phẩm so với cùng kỳ tăng 2,86%. Nguyên nhân chính tác động đến sự tăng giá so với năm trước là do giá thịt heo, thịt gia cầm, thủy sản tăng hơn so với năm 2017. Thêm vào đó năm 2017 giá thịt heo giảm thấp do sự khủng hoảng về giá, giá thịt giảm rất mạnh từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2017. Giá thức ăn gia súc, chi phí chăn nuôi không ngừng tăng lên so với năm trước, sự giảm đàn nuôi trong dân so với năm trước làm giảm nguồn cung.

+ Ăn uống ngoài gia đình

Chỉ số giá của nhóm dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,68% so với tháng trước do giá dịch vụ ăn tại quán ở khu vực nông thôn tăng do chi phí dịch vụ, giá chất đốt, chi phí nguyên liệu thực phẩm tăng giá.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 5,17%. Nguyên nhân là do giá lương thực, thực phẩm, nguyên liệu chế biến cũng như các chi phí dịch vụ, lao động đều tăng lên so với năm 2017.

- Đồ uống và thuốc lá

Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,13% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do giá một số mặt hàng bia chai tăng giá so với tháng trước.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng so với cùng kỳ giảm 0,10% do có nhiều mặt hàng giảm giá như nước ngọt có ga, rượu mạnh giảm giá do tác động của các chương trình khuyến mãi.

- May mặc, mũ nón, giày dép

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,07% so với tháng trước do tác động của chỉ số giá nhóm vải các loại giảm 0,23%, nhóm quần áo may sẵn giảm 0,10% so với tháng trước. Nguyên nhân do trong tháng nhiều cửa hàng thực hiện chương trình khuyến mãi giảm giá nhân dịp mừng lễ Quốc khánh 2/9.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng tăng 1,16% so với cùng kỳ năm trước. Giá các loại vải, giá một số mặt hàng quần áo may sẵn, mũ nón, giày dép tăng hơn so với năm trước do chi phí nhân công, chi phí sản xuất tăng lên, giá dịch vụ may mặc tăng là nguyên nhân tác động làm tăng chỉ số giá nhóm này.

- Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng

Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,74% so với tháng trước do tác động của chỉ số giá các nhóm nhà ở thuê giảm 1,17%; chỉ số nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,07%, chỉ số nhóm điện sinh hoạt giảm 0,83%. Nguyên nhân do nhu cầu nhà trọ của khu vực Bình Thủy giảm do có các dự án nhà ở cho người lao động, người có thu nhập thấp đang được triển khai, nhu cầu nhà trọ cho sinh viên giảm do Trường ĐH Kiến trúc cơ sở 2 tại khu vực Bình Thủy đang xây dựng, sinh viên chuyển lên cơ sở chính ở TP.HCM học, giá xi măng, thép, đá xây dựng, bột trát tường giảm nhẹ.

Tuy nhiên chỉ số giá nhóm gas và các loại chất đốt tăng 2,48% so với tháng trước đã tác động làm cho chỉ số nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng không giảm sâu hơn. Giá gas ngày 01/9/2018 tiếp tục tăng thêm 10.000 đồng/bình 12kg do giá gas thế giới đang ở mức 617,5 USD/tấn, tăng 30 USD/tấn, so với tháng trước. Giá dầu hỏa cuối tháng 9 cũng tăng thêm 420 đồng/lít so với giá đầu tháng sau 2 kỳ điều chỉnh vào ngày 06/9 và ngày 21/9. Giá than tổ ong trong tháng cũng tăng lên do chi phí sản xuất tăng.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng so với cùng kỳ tăng 7,66%. Nguyên nhân do giá bình quân nhà ở thuê, vật liệu xây dựng như cát, thép, sơn, giá điện, giá gas, chất đốt tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.

- Thiết bị và đồ dùng gia đình

Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng giảm 0,47% so với tháng trước. Nguyên nhân do nhiều mặt hàng thiết bị đồ dùng gia đình giảm giá vì trong tháng có nhiều siêu thị, siêu thị điện máy, cửa hàng kinh doanh trên địa bàn thành phố thực hiện các chương trình khuyến mãi, giảm giá đồ điện máy, hàng tiêu dùng.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước do giá đồ dùng trong nhà như đèn điện, máy xay sinh tố, máy đánh trứng, hay đồ dùng nấu ăn, đồ sành sứ, giường tủ, bàn ghế... đều tăng so với cùng kỳ năm trước vì chi phí lao động, chi phí sản xuất, giá điện, nước, xăng dầu đều tăng so với năm 2017.

- Thuốc và dịch vụ y tế

Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế ổn định so với tháng trước. Do giá các mặt hàng thuốc và dịch vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện công, các bệnh viện tư, phòng khám tư nhân đều giữ ổn định giá.

Tuy nhiên chỉ số giá thuốc và dịch vụ y tế quý III/2018 giảm 9,07% so với quý trước. Nguyên nhân do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 15/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 5 năm 2018 của Bộ Y Tế và theo hướng dẫn tính toán của Vụ Thống kê giá, với tỷ lệ bao phủ BHYT của Cần Thơ là 83,36%, việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế này được thực hiện từ tháng 7/2018.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do tác động điều chỉnh giá dịch vụ y tế trong tháng 3 và tháng 8 năm 2017 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC, mặc dù trong quý III có sự điều chỉnh giảm giá dịch vụ y tế theo Thông tư số 15/2018/TT-BYT.

- Giao thông

Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,94% so với tháng trước do tác động của chỉ số giá nhiên liệu xăng, dầu tăng 1,66%. Nguyên nhân do trong tháng có 2 lần điều chỉnh giá xăng, dầu là ngày 06/9 và ngày 21/9 đã đưa giá bán lẻ xăng, dầu tăng thêm từ 420-620 đồng/lít so với giá tháng 8. Hiện giá bán lẻ xăng, dầu như sau: xăng E5 RON 92: 20.230 đồng/lít; xăng RON 95-III: 21.770 đồng/lít; dầu diesel 0,05S: 18.120 đồng/lít; dầu hỏa: 16.680 đồng/lít (giá tham chiếu vùng 1 của Petrolimex).

 Chỉ số giá bình quân 9 tháng nhóm giao thông tăng 8,64% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giá xăng, dầu liên tục ở mức cao đã tác động làm tăng giá các dịch vụ giao thông công cộng, giá vé ô tô khách đã tăng thêm 5.000 đồng/vé trong tháng 8/2018.

- Bưu chính viễn thông

Chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông tháng 9 không có sự tăng, giảm so với tháng trước. Nguyên nhân do giá dịch vụ bưu điện, giá các mặt hàng thiết bị điện thoại có giá ổn định so với tháng trước.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng giảm 0,55% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ngày càng có nhiều thiết bị điện thoại với nhiều tính năng thông minh thay thế cho các dòng máy điện thoại cũ với giá cả phù hợp, vòng đời của các sản phẩm điện thoại ngày càng được rút ngắn, chính vì vậy giá các thiết bị điện thoại được chọn để lấy giá cho cả một chu kỳ điều tra giá tiêu dùng sẽ ngày càng giảm so với giá ban đầu.

- Giáo dục

Chỉ số giá giáo dục tháng 9 tăng 9,15% so với tháng trước do tác động của chỉ số giá của nhóm văn phòng phẩm tăng 0,28%, nhóm dịch vụ giáo dục tăng 11,08%. Đây là nhóm có chỉ số giá tăng cao nhất trong tháng. Nguyên nhân là do việc điều chỉnh giá học phí các cấp học cho năm học mới theo Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐND Quy định mức học phí đối với chương trình giáo dục đại trà cấp mầm non, giáo dục phổ thông công lập năm học 2018-2019 và Nghị 04/2018/NQ-HĐND Quy định mức học phí đối với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập từ năm học 2018-2019 đến măm học 2020-2021. Các trường học tư nhân trên địa bàn thành phố cũng điều chỉnh giá học phí trong đợt này. Chỉ số giá bình quân 9 tháng nhóm giáo dục tăng 6,04% so với cùng kỳ, trong đó nhóm đồ dùng học tập và văn phòng (giấy, sách, vở, bút viết...) tăng 5%, dịch vụ giáo dục tăng 6,27% so với cùng kỳ năm trước.

- Văn hóa, giải trí và du lịch

Chỉ số giá nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch trong tháng giữ ổn định so với tháng trước. Tuy nhiên chỉ số giá bình quân 9 tháng nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,25% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do giá của các mặt hàng, thiết bị văn hóa như sách báo, tạp chí, bưu ảnh, tivi, đầu máy DVD... giá dịch vụ văn hóa như phí thuê bao truyền hình, phí truy cập internet đều tăng giá so với cùng kỳ năm trước.

- Hàng hóa và dịch vụ khác

Chỉ số nhóm hàng này giảm 0,01% so với tháng trước, do tác động giảm giá của mặt hàng đồ trang sức. Giá vàng thế giới giảm, trong khi giá đô la Mỹ trên thế giới không ngừng tăng lên đã tác động làm cho giá vàng trong nước giảm thấp.

Chỉ số giá bình quân 9 tháng nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,31% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do tác động của chỉ số giá nhóm hiếu hỉ, chỉ số giá nhóm dịch vụ khác (bảo hiểm y tế) tăng, cụ thể là giá các dịch vụ cưới hỏi, các vật dụng tang lễ, thờ cúng tăng so với cùng kỳ năm trước; mức đóng BHYT tăng do tác động của chính sách tiền lương của nhà nước, điều chỉnh mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ ngày 01 tháng 7 năm 2018 theo Nghị định số 72/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính Phủ.

- Chỉ số giá vàng

Chỉ số giá vàng giảm 1,11% so với tháng trước. Giá vàng trong nước không ngừng biến động theo giá vàng thế giới, liên tục giảm sau sự tăng giá của đồng đô la Mỹ. Giá vàng 99,99% ngày 21/9/2018 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 3.478.000đ/chỉ. Bình quân 9 tháng giá vàng tăng 4,15% so với 9 tháng cùng kỳ năm 2017.

- Chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,12% so với tháng trước. Đồng đô la Mỹ không ngừng tăng lên trên thị trường thế giới và cuộc tranh chấp thương mại Mỹ - Trung Quốc là nguyên nhân dẫn đến đồng đô la tăng giá đã tác động làm cho tỷ số giá USD trong nước tăng lên. Tỷ giá đô la Mỹ bán ra của Ngân hàng Ngoại thương ngày 21/9/2018 là 23.360 đồng/USD. Bình quân 9 tháng tăng 0,80% so với 9 tháng cùng kỳ năm trước.

3. Đầu tư,  xây dựng

a. Tình hình thực hiện vốn đầu tư

Ước tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thành phố Cần Thơ 9 tháng đầu năm với diễn biến chung giá cả vật liệu ít biến động là điều kiện tốt cho việc đấu thầu, hợp đồng thi công và triển khai thực hiện các công trình xây dựng.

Ước thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng năm 2018 được 31.001,45 tỷ đồng. Trong đó vốn nhà nước trung ương quản lý là 702,37 tỷ đồng, Vốn nhà nước do địa phương quản lý thực hiện được 3.427,60 tỷ đồng, Nguồn vốn ngoài nhà nước thực hiện là 25.263,85 tỷ đồng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được 1.607,63 tỷ đồng, tiến độ xây dựng cơ bản trên địa bàn nhìn chung còn chậm.

Ước thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội năm 2018 được 41.368,12 tỷ đồng. Trong đó vốn nhà nước trung ương quản lý là 1.071,93 tỷ đồng, Vốn nhà nước do địa phương quản lý thực hiện được 5.736,42 tỷ đồng, Nguồn vốn ngoài nhà nước thực hiện là 32.685,14 tỷ đồng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được 1.874,63 tỷ đồng.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Ước 9 tháng năm 2018, cấp giấy chứng đầu tư 05 dự án với vốn đầu tư 4,71 triệu USD; tăng vốn 01 dự án 30,6 triệu USD, chấm dứt hoạt động 02 dự án; lũy kế đến nay, thành phố có tổng số 80 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 692,06 triệu USD, vốn thực hiện 477 triệu USD; trong 9 tháng, doanh thu của các doanh nghiệp ước đạt 279,2 triệu USD.

Vốn nhà nước Trung ương quản lý chủ yếu các công trình của các Bộ ngành, Tập đoàn, Tổng công ty. Vốn ngoài nhà nước chủ yếu là doanh nghiệp và hộ gia đình đầu tư, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp và hộ gia đình đang tập trung mọi nguồn lực về vốn. 9 tháng năm 2018, thu hút đầu tư nước ngoài vào thành phố còn hạn chế, chủ yếu thực hiện là các dự án chuyển tiếp các năm trước, cụ thể thành phố đang triển khai xây dựng nhà máy xử lý rác thải với tổng vốn đầu tư hơn một ngàn tỷ đồng, được thực hiện tại huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

* Tình hình thực hiện các công trình chủ yếu của thành phố

Dự án Nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long – Tiểu dự án thành phố Cần Thơ. Công trình có tổng mức đầu tư 2.097 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2018 phân bổ 303,669 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 8/2018 thực hiện được 1.714,51 tỷ đồng, đạt 81,76%. Tiến độ thực hiện của dự án tương đối chậm, do công tác điều chỉnh thiết kế, công tác giải phóng mặt bằng, nhà thầu huy động nhân lực, thiết bị và vật tư chậm. Riêng tháng 8/2018 ước thực hiện được 21,87 tỷ đồng.

Dự án Phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị. Công trình có tổng mức đầu tư 7.339 tỷ đồng do Ban Quản lý ODA làm chủ đầu tư, kế hoạch vốn năm 2018 được giao 1.622,11 tỷ đồng, trong đó vốn đối ứng là 394 tỷ đồng, vốn ODA (được cấp phát) là 578,11 tỷ đồng và vốn ODA (vay lại) là 650 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu dự án đến tháng 9/2018 thực hiện được 859,46 tỷ đồng đạt 52,98%. Riêng tháng 9/2018 ước thực hiện được 65,39 tỷ đồng.

Dự án Trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Công trình có tổng mức đầu tư 106,85 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2018 được giao 31,38 tỷ đồng. Dự án đang khẩn trương thi công. Từ đầu năm đến tháng 9/2018 thực hiện được 16 tỷ đồng đạt 51% kế hoạch năm. Riêng tháng 9/2018 ước thực hiện 5,93 tỷ đồng.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch XDCB năm 2018, đề nghị  UBND TP chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan và UBND các quận, huyện tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình đã bố trí vốn thực hiện trong năm 2018 để các công trình sớm đưa vào hoạt động phục vụ tốt hơn cho người dân.

Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi trong các thủ tục hành chính để nhà thầu và chủ đầu tư thuận tiện trong việc quyết toán giải ngân vốn đối ứng. Chỉ đạo các chủ đầu tư quan tâm đến giải ngân vốn, thanh toán dứt điểm khối lượng các công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành, nhất là các công trình thuộc nguồn vốn ODA, nguồn vốn trái phiếu chính phủ và các công trình quan trọng thuộc các nguồn vốn khác.

 

b. Kết quả hoạt động xây dựng

Ước thực hiện giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn giá hiện hành 9 tháng năm 2018 thực hiện được 13.412,69 tỷ đồng tăng 22,62% so với cùng kỳ, trong đó khu vực doanh nghiệp thực hiện được 9.148,26 tỷ đồng tăng 29,18% so với cùng kỳ, khu vực loại hình khác thực hiện được 4.264,43 tỷ đồng tăng 19,02% so với cùng kỳ.

Ước thực hiện giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn giá hiện hành năm 2018 thực hiện được 17.883,58 tỷ đồng tăng 14,13% so với cùng kỳ, trong đó khu vực doanh nghiệp thực hiện được 12.197,68 tỷ đồng tăng 18,13% so với cùng kỳ, khu vực loại hình khác thực hiện được 5.685,9 tỷ đồng tăng 13,40% so với cùng kỳ.

Nhìn chung tình hình thực hiện giá trị sản xuất ngành xây dựng 9 tháng năm 2018 thuận lợi, do giá cả vật liệu xây dựng năm 2018 ổn định. Hiện nay, đã bắt đầu vào mùa mưa bão, phần nào cũng ảnh hưởng đến việc thi công các công trình xây dựng trên địa bàn thành phố. Hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố chủ yếu tập trung ở các công trình thuộc vốn ngân sách nhà nước, do ảnh hưởng từ thị trường bất động sản nên hoạt động xây dựng nhà ở của hộ dân cư cũng hạn chế. Thị trường đầu ra của các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư xây dựng, lắp ráp nhà xưởng, nên doanh thu ngành xây dựng cũng hạn chế.

Để tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp xây lắp: Thành phố chỉ đạo các đơn vị chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành các thủ tục thanh quyết toán các công trình đã hoàn thành năm 2018 và các năm trước để các doanh nghiệp xây lắp có vốn hoạt động giải quyết khó khăn về vốn hiện nay.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

- Trồng trọt:

+ Cây lúa:

Vụ lúa Đông xuân 2018: Toàn thành phố Cần Thơ đã xuống giống được 82.501 ha lúa Đông xuân 2018, so KH đạt 98% (KH: 83.930 ha); So với cùng kỳ năm trước thấp hơn 2.948 ha. Nguyên nhân diện tích giảm: Do hầu hết quận, huyện nông dân lên vườn trồng cây lâu năm, cây hàng năm khác trên nền đất gò khó giữ nước hoặc diện tích đất trồng lúa không hiệu quả hay bị chuột cắn phá và một số diện tích chuyển đổi sang mục đích xây dựng nhà ở, công trình công cộng...

Năng suất lúa đạt 71,63 tạ/ha, so vụ lúa Đông xuân 2017 tăng 9,95%; bằng 6,48 tạ/ha; Sản lượng đạt 590.917 tấn, so với cùng kỳ tăng 6,15%,  bằng 34.237 tấn. Năng suất vụ lúa Đông xuân năm nay tăng chủ yếu là do thời tiết thuận lợi, cộng với tình hình lũ của năm 2017 lớn đã rửa sạch các mầm bệnh gây hại trên đồng ruộng, diện tích đất nghỉ ngơi lâu làm tăng lượng phù sa cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt và ngành chức năng cử cán bộ kỹ thuật của thành phố, quận, huyện xuống tận xã, phường bám chặt đồng ruộng chỉ đạo, hướng dẫn nông dân từ lúc xuống giống cho đúng lịch thời vụ, đồng loạt nên đã né được rầy, tránh được dịch muỗi hành và chăm sóc lúa đúng kỹ thuật, giúp bà con sản xuất lúa hạn chế sâu bệnh, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất.

Năng suất năm nay tăng cao so với cùng kỳ là do vụ lúa Đông xuân 2017 bị giảm quá sâu do bị bệnh muỗi hành, hầu như cả khu vực ĐBSCL đều ảnh hưởng.

Vụ lúa Hè thu 2018: Thành phố Cần Thơ gieo trồng được 80.754 ha, đạt 103,4% so với kế hoạch (KH: 78.100 ha), giảm so với vụ Hè thu 2017 là 305 ha. Ngành Nông nghiệp tiếp tục mở rộng thực hiện mô hình cánh đồng lớn trên địa bàn các huyện Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ, Phong Điền và quận Thốt Nốt với khoảng 90 mô hình cánh đồng lớn với diện tích ước đạt 23.245 ha, tăng so với cùng kỳ 3.729 ha, với khoảng 16.287 hộ tham gia. Với mục tiêu nâng cao chất lượng, tăng giá trị hàng hóa nông sản để góp phần tăng thu nhập cho nông dân, ngành Nông nghiệp đã khuyến cáo sử dụng các giống lúa đặc sản chất lượng cao chiếm trên 78% diện tích gieo trồng.

Đến nay, đã thu hoạch dứt điểm diện tích lúa Hè thu, năng suất ước đạt 57,66 tạ/ha, so với Hè thu 2017 tăng 1,00%, bằng 0,57 tạ/ha. Sản lượng ước 465.639 tấn, so cùng kỳ tăng 2.879 tấn.

Nguyên nhân năng suất và sản lượng tăng do:

Ngay từ đầu vụ, các địa phương đã hoàn thiện hệ thống thủy lợi, tuân thủ nghiêm túc các khuyến cáo của ngành nông nghiệp như làm đất kỹ, vệ sinh đồng ruộng, gieo sạ đồng loạt, né rầy, đúng lịch, áp dụng “4 đúng” trong phòng trừ sâu bệnh, thâm canh tổng hợp, quản lý dịch hại theo phương pháp IPM, áp dụng “3 giảm 3 tăng,” “1 phải 5 giảm,” bón phân cân đối trong quá trình sản xuất, nhờ đó lúa phát triển tốt, diện tích lúa nhiễm sâu rầy không nhiều.

Tuy nhiên, vụ lúa Hè thu sớm năm nay thời tiết có nhiều diễn biến thất thường, mưa nắng xen kẻ và kéo dài, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh và gây hại trên lúa; Nhưng với kinh nghiệm sản xuất và thường xuyên được dự báo tình hình sâu bệnh trên báo đài, từ đó nông dân đã chủ động phòng trừ, quản lý tốt sâu bệnh trên đồng ruộng, nhờ đó lúa phát triển tốt và cho năng suất khá cao.

 

Vụ lúa Thu đông 2018: Diện tích lúa vụ Thu đông toàn thành phố ước đạt 74.071 ha tăng so với cùng kỳ là 0,62%, bằng 453 ha so với kế hoạch (KH 54.900 ha) đạt 113,49%. Diện tích lúa tăng chủ yếu ở huyện Vĩnh Thạnh và Thới Lai vì có đê bao được đảm bảo cho cây lúa đến lúc thu hoạch. Các quận huyện còn lại diện tích đều giảm so vụ lúa Thu đông 2017.

Đến ngày 12/9/2018, diện tích lúa Thu đông đã thu hoạch khoảng 2.042 ha, đạt khoảng 2,76% so với diện tích gieo trồng, tập trung tại huyện Thới Lai 1.301 ha và quận Ô Môn 741 ha; sản lượng ước đạt 10.198 tấn (trên diện tích đã thu hoạch). Diện tích lúa còn lại chủ yếu ở giai đoạn trổ đến chắc xanh, sinh trưởng và phát triển khá tốt; Ngành nông nghiệp tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ diện tích lúa Thu đông, theo dõi và thông báo kịp thời tình hình diễn biến của thời tiết, sâu bệnh, chuẩn bị các phương tiện để bảo vệ diện tích lúa Thu đông chưa thu hoạch. Do tình hình mực nước tăng cao, đã tràn đập làm ảnh hưởng đến 2.043 ha, tập trung tại huyệnVĩnh Thạnh, quận Thốt Nốt, Ô Môn, nông dân đang tiến hành bơm thoát nước. Dự kiến diện tích có khả năng bị ảnh hưởng của nước lũ khoảng 10.688 ha.

Lĩnh vực sản xuất giống lúa: Ngành nông nghiệp chú trọng đẩy mạnh phát triển hệ thống sản xuất giống lúa 3 cấp. Đến nay, trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện có 123 cơ sở, hộ sản xuất và cung ứng lúa giống với năng lực cung ứng 52.700 tấn/năm. Thành phố hiện đang triển khai đề án “Xây dựng hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa đạt tiêu chuẩn chất lượng tại thành phố Cần Thơ” để nâng cao năng lực cung ứng giống lúa, đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn theo qui định.

Hiện nay, tổng số máy gặt đập liên hợp toàn thành phố hiện có khoảng 789 máy, có khả năng đảm bảo cắt gặt trên 90% diện tích gieo trồng; hệ thống lò sấy lúa có khoảng 1.300 lò, đáp ứng sấy trên 70% sản lượng lúa Hè thu và Thu đông trên địa bàn. Việc cơ giới hóa trong các khâu: làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch... đã góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất, tăng năng suất lao động, khắc phục tình trạng thiếu lao động nông nghiệp lúc thời vụ, đồng thời giảm tổn thất trong và sau thu hoạch.

Giá lúa tươi vụ Thu đông cụ thể như sau: lúa IR 50404: 4.600-5.100 đồng/kg, các lúa giống OM: 5.000-5.100 đồng/kg. Nhìn chung giá lúa Thu đông năm nay có tăng 200-400 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; Nguyên nhân giá lúa tăng là do các doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) đã ký nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo cùng với việc đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, xây dựng vùng nguyên liệu gạo an toàn, chất lượng cao vùng đồng bằng sông Cửu Long.

+ Các loại cây hằng năm khác:

Đến ngày 12/9/2018, toàn thành phố gieo trồng cây hàng năm khoảng 13.076 ha, thấp hơn so với cùng kỳ 1.643 ha. Nguyên nhân: Diện tích giảm tập trung chủ yếu cây mè ở quận Ô Môn, Thốt Nốt do năm trước nước lũ rút trễ nên diện tích gieo sạ chậm hơn so với cùng kỳ đã ảnh hưởng tới lịch thời vụ, mặt khác do thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn trong năm 2017 giá mè chỉ còn 25.000 - 28.000đ/kg giảm mạnh so với những năm trước từ 10.000 đến 12.000đ/kg. Một phần bà con đợi để sạ lúa vụ Hè thu 2018 vì giá lúa năm nay có khả năng cao hơn năm 2017 từ 200 - 800đ/kg. Diện tích đã thu hoạch được khoảng 10.269 ha cây hằng năm khác, chậm hơn cùng kỳ 14,40%. Ngành Nông nghiệp tiếp tục triển khai các đề tài, dự án, mô hình giúp nông dân giảm chi phí, tăng thu nhập trong sản xuất như: dự án WB6, VnSAT, dự án xây dựng mô hình sản xuất rau theo hướng VietGAP,… Theo dõi và hướng dẫn HTX rau an toàn Long Tuyền duy trì sản xuất sản phẩm rau an toàn phù hợp với Quy trình VietGAP (giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp với 5 Quy trình VietGAP với diện tích 10,22 ha, sản xuất các chủng loại Bí, dưa hấu, ớt, khổ qua, cà chua, dưa leo, dưa lê).

+ Các loại cây lâu năm:

Diện tích cây lâu năm ở TP Cần Thơ ước 9 tháng đầu năm 2018 gieo trồng được 20.183 ha, tăng 1.581 ha, bằng 8,5% so cùng kỳ năm 2017; Trong đó diện tích cây ăn quả ước khoảng 18.361 ha, chiếm 90,97% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 1.653 ha, bằng 11,00% so cùng kỳ. Chủ yếu tăng ở nhóm cây nhiệt đới, cận nhiệt đới tăng 10,72%; cây xoài tăng 9,92%; sầu riêng tăng 180 ha; Na (mãng cầu) tăng 135 ha...

Nguyên nhân:

Thời gian qua, các quận, huyện trên địa bàn thành phố được các cấp chính quyền, ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn hỗ trợ đầu tư đê bao khép kín bảo vệ vườn cây ăn quả, vận động nông dân cải tạo vườn tạp và chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang phát triển vườn cây ăn trái; được trợ giá cây giống từ nguồn hỗ trợ của thành phố cũng như phân công cán bộ kỹ thuật hướng dẫn thực hiện các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phòng trị bệnh trên cây ăn trái, vì vậy đã đạt được sự đồng thuận từ người dân, nhiều hộ dân mạnh dạn chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ đó đã hình thành các vườn cây ăn trái chuyên canh kết hợp với du lịch sinh thái nên diện tích một số cây ăn quả được mở rộng như: na, vú sữa Lò rèn, vú sữa Bơ, dâu Hạ Châu, Sa Pô chê, nhãn xuồng cơm vàng, cam, quýt, bưởi… Với định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện nay đã xây dựng được 12 vườn cây ăn trái kết hợp phát triển du lịch sinh thái, lợi nhuận cao gấp 1,5 - 2 lần so với trồng chuyên cây ăn trái.

Bên cạnh đó nhiều hộ dân trồng xen canh các loại cây ăn quả (mật độ như trồng trần) để thay thế các vườn cây bị già cõi, năng suất thấp từ các năm trước, đến nay khi người dân chặt bỏ các vườn cây già cõi, năng suất thấp để các cây trồng xen canh phát triển nên diện tích trồng mới, diện tích chưa cho sản phẩm và diện tích cho sản phẩm trên thành phố có sự biến động đáng kể.

Mô hình trồng dâu xanh, dâu bòn bon, dâu Hạ Châu được phát triển mạnh ở huyện Phong Điền để đưa đi tiêu thụ ở các tỉnh ĐBSCL, TP.HCM…

Ngoài ra, các hộ dân còn tận dụng các phần diện tích bờ đê quanh ao nuôi thủy sản để trồng một số loại cây ăn quả khác như đu đủ để tăng thêm thu nhập.

Tuy nhiên, một số diện tích trồng cây ăn quả đã được chuyển sang mục đích sử dụng khác như xây dựng khu dân cư, mở rộng khu công nghiệp, công trình công cộng, tập trung chủ yếu ở quận Thốt Nốt, Cái Răng và Ô Môn…

Ngành Nông nghiệp tổ chức hướng dẫn cho HTX làm vườn Trường Thuận 1 về quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt-VietGAP với quy mô 17,5 ha với 21 hộ dân tham dự, các loại cây trồng chủ yếu như mít, vú sữa, sầu riêng, nhãn, chanh, chôm chôm, hạnh, ổi...

Trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện có 58 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn trái với năng lực cung ứng 650.000 cây/năm.

- Chăn nuôi:

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố không xảy ra dịch bệnh tai xanh ở heo, lở mồm long móng trên gia súc và dịch cúm gia cầm. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, UBND thành phố Cần Thơ, ngành Nông nghiệp đã phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện thống kê đàn vật nuôi nhất là đàn heo và thực hiện các giải pháp ổn định nguồn cung mặt hàng thịt heo, đồng thời, chỉ đạo người chăn nuôi không nên tăng đàn ồ ạt, tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại thường xuyên và tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ trên đàn gia súc, gia cầm.

Toàn thành phố có 16 cơ sở chăn nuôi sản xuất con giống (11 cơ sở chăn nuôi heo; 05 cơ sở chăn nuôi vịt) và 36 cơ sở nuôi heo đực giống: 249 con heo đực giống; Ngành Nông nghiệp đang thực hiện Dự án đầu tư phát triển và nâng cấp hệ thống nhân giống heo các tỉnh phía Nam, liên kết với Trung tâm giống heo Bình Thắng hỗ trợ hộ chăn nuôi đầu tư sản xuất con giống...

Đàn gia súc và gia cầm hiện nay đang có xu hướng tăng tổng đàn trở lại so với những tháng đầu năm. Giá heo hơi hiện nay dao động ở mức từ 47.000-50.000đ/kg, so với cùng kỳ năm 2017 tăng khoảng 20.000-24.000đ/kg; Nguyên nhân: Do  nguồn cung bị thiếu hụt, heo xuất chuồng được các thương lái thu mua khá mạnh, những năm trước thương lái chỉ tập trung mua ở các trang trại, doanh nghiệp còn năm nay xuống tận các hộ nuôi nhỏ lẻ nên đẩy giá lên cao. Giá vịt ta hơi ở mức từ 40.000-45.000 đồng/kg, vịt xiêm 60.000-65.000 đồng/kg; Gà thả dao động khoảng 90.000-110.000 đồng/kg. Trong khi chi phí thức ăn, tấm cám ở mức khá cao, giá đầu ra của gia cầm hiện tại đảm bảo có lợi cho người nuôi.

Hiện nay, chăn nuôi còn nhỏ lẻ, phân tán, mô hình chăn nuôi tập trung theo hướng an toàn sinh học chưa nhiều.

b. Lâm nghiệp

Triển khai Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 08 tháng 2 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2018, ước 9 tháng năm 2018 là: 502 ngàn cây, so với cùng kỳ giảm 9 ngàn cây. Do thời tiết năm nay mưa nhiều, lũ về sớm nên cây phân tán bị ngập nước chết nhiều và nông dân cải tạo vườn tạp nên số lượng cây trồng lâm nghiệp phân tán giảm.

Sản lượng khai thác gỗ từ cây trồng phân tán 9 tháng năm 2018 giảm 20,33% bằng 775 m3; Sản lượng củi giảm 15,91%, bằng 6.367 Ster; Sản phẩm khai thác cây tre, trúc tăng nhẹ do nhu cầu dùng trong dịp tết Nguyên đán như đan lát và giỏ hoa tết…

c. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản ước 9 tháng năm 2018 toàn TP Cần Thơ ước đạt 7.158 ha, so với cùng kỳ năm 2017 giảm 11,67%, bằng 946 ha; Tuy nhiên, cá tra thâm canh, bán thâm canh ước đạt 742 ha tăng 59 ha so với cùng kỳ. Nuôi thủy sản lồng bè ước đạt 341 bè, tăng 50 bè so với cùng kỳ năm 2017, tập trung chủ yếu ở các quận Ô Môn, Thốt Nốt, Bình Thủy. Nguyên nhân diện tích giảm tập trung nuôi cá trên ruộng do người dân gieo sạ lúa Thu đông được đê bao.

Sản lượng thuỷ sản 9 tháng năm 2018 toàn TP Cần Thơ ước đạt 158.678 tấn, tăng 12,36%, bằng 17.462 tấn so với cùng kỳ 2017; Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 153.373 tấn, tăng 17.343 tấn so cùng kỳ 2017, chiếm 96,66% tổng sản lượng thủy sản toàn thành phố (sản lượng cá tra ước đạt 134.789 tấn, so cùng kỳ năm 2017 tăng 16,59%). Do giá cá tra tăng liên tục dẫn đến nhiều hộ dân đã đầu tư thả nuôi cá tra trở lại ngay từ đầu năm 2018, nhiều hộ nuôi còn tăng mật độ nuôi cũng như lượng thức ăn cho cá tra để thúc nuôi cá tra tăng trọng nhanh nhằm kịp bán với giá cao nên diện tích thu hoạch cá tra và năng suất tăng đáng kể so với cùng kỳ năm 2017.

Hiện nay, giá bán cá tra nguyên liệu dao động từ 24.500-25.000 đồng/kg (kích cỡ 700-800g/con) so với cùng kỳ năm 2017 tăng khoảng 4.000 đồng/kg; Giá thành bình quân 21.000-22.000 đồng/kg với giá này người nuôi lãi từ 3.000-4.000đ/kg; Với tình hình giá cả như trên người nuôi cá tra hiện nay thuận lợi, một số hộ có điều kiện về vốn đang đầu tư trở lại.

Khai thác thủy sản chủ yếu trên sông Hậu, các sông, rạch lớn bằng các ghe thuyền có công suất nhỏ và trên ruộng; Nguyên nhân tăng là do mùa nước nổi năm nay đến sớm hơn mọi năm và lượng cá về nhiều từ đó rất nhiều người khai thác nên sản lượng tăng. Tuy nhiên nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên sông rạch ngày càng cạn kiệt nên sản lượng đánh bắt có xu hướng giảm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của một bộ phận người dân hành nghề đánh bắt trên sông.

Hiện nay, có 125 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ. Sản xuất 9 tháng năm 2018 ước đạt 314 triệu con cá tra giống cung cấp nhu cầu nuôi của thành phố và các tỉnh lân cận. Trong tháng giá cá tra giống dao động từ 34.000-38.000 đồng/kg tăng khoảng 9.500 đồng/kg so với tháng trước, cá giống kích cỡ 2 cm chiều cao thân – mẫu 30 con/kg giá từ 34.000-35.000 đồng/kg, giá cá giống 1,5 cm chiều cao thân – mẫu 70 con/kg giá từ 37.000-38.000 đồng/kg.

Hiện nay xuất hiện rải rác các bệnh gan thận mủ, phù đầu, xuất huyết trong các ao nuôi cá tra, đặc biệt các ao ương cá giống và ao mới thả giống.

Hiện nay nước lũ về nhiều nên người nuôi cá ruộng bắt đầu thả cá để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên.

Hiện tại các công ty chế biến thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ có khuynh hướng xây dựng vùng nuôi tập trung để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến, cơ sở nuôi tham gia xây dựng mối liên kết 4 nhà, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp. Ngành Nông nghiệp đang chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa thủy sản. Đến nay, có 02 HTX nuôi cá tra với diện tích 27 ha; 43 hộ tham gia liên kết sản xuất với các nhà máy với diện tích 144 ha; 20 vùng nuôi của 08 doanh nghiệp tham gia nuôi cá tra với diện tích 159,7 ha và tổng diện tích nuôi thủy sản ATTP theo tiêu chuẩn đạt 228,5 ha, bao gồm: 214,75 ha VietGAP (trong đó có 17 ha BMP+ASC) và 13,5 ha BAP+ASC.

Ngành Nông nghiệp luôn tích cực cùng nông dân bám sát đồng ruộng, ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đẩy mạnh việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm; phương thức sản xuất chuyển dần sang hướng tập trung tạo ra khối lượng hàng hóa lớn; từng bước hình thành sự liên kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ; thực hiện cơ giới hóa trong khâu thu hoạch góp phần giảm giá thành, nâng cao hiệu quả và ổn định trong sản xuất. Tuy nhiên, sản xuất vẫn còn gặp nhiều khó khăn do thời tiết không thuận lợi cho sản xuất và giá cả đầu ra không ổn định làm ảnh hưởng đến tâm lý người sản xuất.

 

5. Sản xuất công nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tháng 9 tăng 3,45% so với tháng trước và tăng 10,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,96%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 8,88% so với cùng kỳ.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước thực hiện 9 tháng tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,37%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 5,92%. Trong đó, có một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá như: Phi lê đông lạnh tăng 9,59%; gạo xay xát tăng 8,37%; thức ăn cho thủy sản tăng 26,22%; bia lon tăng 13,18%; quần áo tăng 49,76%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 3,46%; thùng, hộp bằng bìa cứng tăng 15,13%; sản phẩm in khác tăng 19,46%; thuốc diệt cỏ tăng 8,24%; dược phẩm tăng 8,76%; sản phẩm gia dụng tăng 4,08%; xi măng tăng 1,01%; găng tay thể thao tăng 21,28%; nước sinh hoạt tăng 6,47%. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh đang tập trung tăng cường đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng chủ lực nhằm phục vụ cho dịp Tết Trung thu sắp đến nên các mặt hàng như: lương thực, thực phẩm và đồ uống, sản phẩm dệt... tăng mạnh để đảm bảo nguồn hàng cung cấp cho thị trường và hoàn thành các hợp đồng đã ký kết. Hơn nữa, do các hộ sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp thực hiện được nhiều hợp đồng mới, kết hợp xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu và luôn đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã, quan tâm đến chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm…. Bên cạnh đó, hàng may mặc tăng do các cơ sở tăng lượng sản xuất để đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của người dân trong năm học mới và phục vụ tốt nhất cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; Gỗ cưa xẻ có xu hướng tăng vào mùa nước nổi do các cơ sở mộc tập trung sản xuất ghe xuồng nhỏ phục vụ nhu cầu đánh bắt thủy sản của nông dân…

 Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước thực hiện năm 2018 tăng 8,15% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 9 tăng 1,65% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng chỉ số tiêu thụ tăng 8,76% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,92%; sản xuất đồ uống tăng 8,46%; sản xuất trang phục tăng 33,71%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 3,45%; sao chép bản ghi các loại tăng 19,46%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 13,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 6,78%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 9,03%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 32,57%. Tình hình tiêu thụ trên cho thấy mức tiêu thụ có tăng nhưng vẫn còn thấp, do mức thu nhập của người dân còn hạn hẹp, do giá cả một số sản phẩm tăng. Hơn nữa, do thiếu nguyên liệu đầu vào, khả năng cạnh tranh trên thị trường còn thấp và ngày càng gay gắt, do phải đối mặt với nhiều cạnh tranh từ các nước xuất khẩu truyền thống và các đối thủ mới.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2018 là 87,38% so với tháng cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 09/2018 tăng 0,29% so với tháng trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,13%, doanh nghiệp Ngoài Nhà nước tăng 0,3% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,3%. Số lao động tại các doanh nghiệp vẫn giữ mức ổn định, mức tăng giảm không đáng kể, vẫn duy trì ở mức bình thường.

Tình hình đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp: Trong tháng, ước cấp mới đăng ký kinh doanh cho 64 doanh nghiệp các loại hình với tổng vốn đăng ký 523 tỷ đồng; Lũy kế trong 9 tháng năm 2018, cấp mới đăng ký kinh doanh cho 1.060 doanh nghiệp các loại hình, đạt 62,4% KH về số lượng doanh nghiệp; tổng vốn đăng ký 5.521 tỷ đồng, đạt 93,6% KH về số vốn đăng ký; so với cùng kỳ tăng 6,6% về số doanh nghiệp đăng ký mới và tăng 31,6% về số vốn đăng ký.​

Để ngành công nghiệp tiếp tục duy trì và phát triển bền vững, cần có sự quan tâm sâu sát của các ngành, các cấp. Các ngành chức năng cần hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần vào sự phát triển chung của Thành phố.

Đối với doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới tiêu thụ tại các thị trường truyền thống, tích cực tìm kiếm thị trường mới, gia tăng xuất khẩu các sản phẩm cao cấp, cung ứng đủ nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tiếp thị nhằm tìm kiếm thêm khách hàng tại các nước EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines….Đồng thời quan tâm đến nguồn nguyên liệu đầu vào, giá cả, chủng loại sản phẩm. Mặt khác, các doanh nghiệp cần tranh thủ tiếp cận các chính sách ưu đãi của Chính phủ cũng như của địa phương để có chiến lược phát triển kinh doanh lâu dài. Hơn nữa, các doanh nghiệp cần tái cấu trúc kinh doanh nhằm tập trung vào các mảng sản xuất, kinh doanh chủ chốt, có thế mạnh; Tăng cường tính liên kết trong kinh doanh, đặc biệt là giữa doanh nghiệp có cùng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh để các doanh nghiệp có thể hỗ trợ, bổ sung nguồn lực để từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh.

 

6. Thương mại, dịch vụ

 

a. Nội thương

Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ cá thể trên địa bàn TP Cần Thơ 9 tháng năm 2018 nhìn chung phát triển khá tốt. Trong 9 tháng năm 2018 giá lúa gạo tăng, xuất khẩu thủy sản ổn định. Doanh thu bán lẻ tăng mạnh ở các nhóm lương thực thực phẩm, hàng may mặc, vật phẩm văn hóa giáo dục và vật liệu xây dựng. Nhiều hoạt động dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ kinh doanh bất động sản, dịch vụ về y tế và giáo dục đều phát triển ổn định. Bên cạnh đó, hiện nay TP Cần Thơ đang thu hút đầu tư mạnh vào các ngành dịch vụ và du lịch nhằm đưa TP Cần Thơ thành trung tâm về thương mại, dịch vụ và du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong những năm tới.

Ước tháng 9/2018, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 10.380,38 tỷ đồng tăng 13,80% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 6.279,9 tỷ đồng tăng 13,35% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể đạt 2.885,74 tỷ đồng tăng 16,98% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước đạt 1.006,15 tỷ đồng tăng 10,35% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 82,32% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 9/2018 đạt 8.544,92 tỷ đồng tăng 14,47% so cùng kỳ. Dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 791,65 tỷ đồng tăng 15,27% so cùng kỳ, du lịch lữ hành ước đạt 41 tỷ đồng tăng 10,02% so cùng kỳ, dịch vụ ước đạt 1.002,81 tỷ đồng tăng 7,49% so cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn Thành phố ước tính 9 tháng năm 2018 đạt 91.132,76 tỷ đồng tăng 12,88% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân ước đạt 54.931,1 tỷ đồng tăng 12,40% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể ước đạt 24.897,78 tỷ đồng tăng 14,82% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước ước đạt 9.466,27 tỷ đồng tăng 11,72% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 82,69% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng năm 2018, ước đạt 75.357,02 tỷ đồng tăng 13,11% so cùng kỳ; Dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.648,85 tỷ đồng tăng 12,87% so cùng kỳ, du lịch lữ hành ước đạt 332,11 tỷ đồng tăng 14,4% so cùng kỳ, dịch vụ ước đạt 8.794,78 tỷ đồng tăng 10,91% so cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn Thành phố ước năm 2018 đạt 120.510,35 tỷ đồng tăng 12,26% so cùng kỳ.

b. Giao thông vận tải

- Vận tải hàng hoá: Tháng 9/2018, ước vận chuyển 1.129,64 ngàn tấn hàng hoá tăng 1,86% so cùng kỳ; (luân chuyển đạt 202,35 triệu T.Km đạt 101,39% so cùng kỳ). Ước 9 tháng năm 2018 vận chuyển 8.829,69 ngàn tấn hàng hóa tăng 1,76% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 1.554,44 triệu T.Km đạt 101,61% so cùng kỳ. Ước năm 2018 vận chuyển 12.852,1 ngàn tấn hàng hóa tăng 1,63% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 2.262,58 triệu T.Km đạt 101,48% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 9/2018, ước vận chuyển đạt 458,77 ngàn tấn tăng 1,83% so cùng kỳ (luân chuyển 105,03 triệu T.Km đạt 101,23% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển đạt 645,85 ngàn tấn tăng 1,89% so cùng kỳ (luân chuyển 71,58 triệu T.Km đạt 101,60% so cùng kỳ). Đường biển ước vận chuyển đạt 25,02 ngàn tấn tăng 1,71% so cùng kỳ (luân chuyển 25,74 triệu T.Km đạt 101,50% so cùng kỳ).

- Vận tải hành khách: Tháng 9/2018, ước vận chuyển 2.999,37 ngàn lượt hành khách tăng 1,70% so cùng kỳ; (luân chuyển 44,07 triệu lượt HK.Km đạt 101,42% so cùng kỳ). Ước 9 tháng năm 2018 vận chuyển 21.714,01 ngàn lượt HK tăng 1,71% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 317,70 triệu HK.Km đạt 101,54% so cùng kỳ. Ước năm 2018 vận chuyển 31.605,94 ngàn lượt HK tăng 1,72% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 462,42 triệu HK.Km đạt 101,49% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 9/2018, ước vận chuyển 1.608,73 ngàn lượt HK tăng 1,78% so cùng kỳ (luân chuyển 42 triệu HK.Km đạt 101,42% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển 1.390,64 ngàn lượt HK tăng 1,60% so cùng kỳ (luân chuyển 2,07 triệu HK.Km đạt 101,37% so cùng kỳ).

7. Các vấn đề xã hội

a. Tình hình đời sống dân cư

- Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương:

Trong 9 tháng năm 2018, đời sống của cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương trên địa bàn thành phố Cần Thơ được giữ ổn định, cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương vui mừng, phấn khởi đón Tết Nguyên đán và các ngày lễ, kỷ niệm, nhất là công tác vận động xã hội hóa tích cực chăm lo của các ngành, các cấp đối với các gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và công nhân lao động nghèo... được quan tâm và thực hiện tốt. Tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ổn định, phát triển; công tác an sinh xã hội, giải quyết việc làm được quan tâm thực hiện tốt.

9 tháng năm 2018, Liên đoàn Lao động thành phố phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố tổ chức họp mặt công nhân lao động và đồng chí Trần Thanh Mẫn - UVBCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam trao tặng 50 phần quà cho CNLĐ ở Khu Chế xuất và Công nghiệp có hoàn cảnh khó khăn, mỗi phần quà gồm tiền mặt và nhu yếu phẩm. Liên đoàn Lao động thành phố phối hợp với các đối tác thực hiện Chương trình “Tết sum vầy” bán hàng với chính sách ưu đãi giảm giá cho đoàn viên và người lao động tại Khu Công nghiệp Trà Nóc. Liên đoàn Lao động thành phố và các cấp công đoàn tặng 25.618 phần quà cho CNLĐ nghèo.

Thực hiện Chương trình phúc lợi đoàn viên, Công đoàn các Khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ đã ký kết Chương trình phối hợp với Công ty TNHH TM Hương Việt và Công ty CP Thực phẩm dinh dưỡng Nutifood. Nhân dịp Tết Nguyên đán và ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3/2018, nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho người lao động, CĐ các Khu Chế xuất đã phối hợp với các đơn vị bán hàng giảm giá cho hơn 47.000 lượt CNLĐ.

Thực hiện Quỹ Xã hội từ thiện “Tấm lòng vàng Công đoàn Cần Thơ” đến các cấp công đoàn. Đề nghị Ban Quản lý Quỹ trợ cấp khó khăn đột suất cho 07 trường hợp bị bệnh hiểm nghèo với số tiền 17.000.000 đồng, từ nguồn Quỹ Tấm lòng vàng Công đoàn Cần Thơ.

Quỹ Trợ vốn cho CNLĐ nghèo: Phát vay 185 lượt CNVCLĐ nghèo của 20 đơn vị, với tổng số tiền đã phát vay là 1,920 tỷ đồng. Thu hồi vốn và lãi 2,160 tỷ đồng (trong đó: thu hồi vốn 1,970 tỷ đồng và thu lãi là 190 triệu đồng).

Nhìn chung, đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương 9 tháng năm 2018 được ổn định. Việc thưởng tết và tăng lương cho nhóm đối tượng này giải quyết được phần nào khó khăn vào các dịp tết. Tuy nhiên thì việc tăng lương, thưởng tết cũng kéo theo giá cả một số mặt hàng, dịch vụ tăng lên, đặc biệt là giá của các dịch vụ giáo dục tư nhân, y tế tư nhân tăng nên túi tiền tích trữ của cán bộ, công nhân viên chức và người lao động gần như không tăng lên bao nhiêu sau khi được tăng lương hay thưởng tết, đặc biệt là cán bộ công chức nhà nước hiện nay lương vẫn thấp hơn đáng kể so với người lao động thuộc khu vực tư nhân. Cần có chính sách tăng lương hợp lý hơn và mức lương của công chức, viên chức và người lao động phải tương đương với khu vực tư nhân, có như vậy thì mới đảm bảo cuộc sống, giúp cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khu vực nhà nước an tâm công tác.

- Đời sống dân cư nông thôn:

9 tháng năm 2018, đời sống dân cư nông thôn được cải thiện lên nhiều do năng suất các sản phẩm nông nghiệp tăng cao, kèm theo giá bán các sản phẩm nông nghiệp tăng cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Giá công lao động khu vực nông thôn cũng tăng lên do thiếu lực lượng lao động, nguyên nhân do lao động nông nghiệp mang tính chất thời vụ, nên lao động khu vực nông thôn có xu hướng rời địa phương, tìm các công việc có thu nhập cao hơn và có tính chất ổn định hơn.

b. Công tác an sinh xã hội

- Tình hình lao động có việc làm và thực hiện chính sách với người có công:

9 tháng năm 2018, giải quyết việc làm cho 53.657 lao động (có 132 lao động đi làm việc ở nước ngoài), đạt 106,8% kế hoạch năm, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017.

Công tác Quản lý lao động nước ngoài: tiếp nhận và thẩm định hồ sơ giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài 32 doanh nghiệp (Cấp mới: 18 giấy phép; Xác nhận miễn cấp giấy phép: 11 người của 07 doanh nghiệp; Cấp lại giấy phép lao động: 10 giấy phép của 09 doanh nghiệp). Tiếp nhận hồ sơ thu hồi 07 giấy phép lao động của 06 đơn vị. Tư vấn hướng dẫn các quy định về sử dụng lao động người nước ngoài tại 10 doanh nghiệp.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới và đào tạo nghề nghiệp cho 37.026 người (trong đó: 5.442 cao đẳng, 2.897 trung cấp; 12.205 sơ cấp và 16.482 đào tạo thường xuyên; nữ: 8.298 người), đạt 80,5% kế hoạch năm 2018, tăng 18% so cùng kỳ năm 2017.

Chính sách người có công: Toàn thành phố hiện có 6.829 đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi thường xuyên. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ đối với người có công với cách mạng. Sửa chữa 207 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1.140 triệu đồng. Ngoài ra còn vận động trên 620 triệu đồng để xây dựng 8 căn nhà và sửa chữa 20 căn từ Công ty Xổ số kiến thiết Cần Thơ và Ngân hàng Vietcombank. Phối hợp quận Ô Môn và Ngân hàng SHB chi trả số tiền trên 272 triệu đồng cho người có công với cách mạng quận Ô Môn. Rà soát lại đối tượng người có công với cách mạng đang gặp khó khăn về nhà ở để xây dựng 30 nhà tình nghĩa từ nguồn vốn tài trợ trên 1,7 tỷ đồng của Ngân hàng SHB. Tổ chức tốt các hoạt động nhân kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2018); toàn thành phố đã thăm, tặng trên 23.500 phần quà cho người có công với cách mạng với tổng kinh phí trên 08 tỷ 887 triệu đồng từ nguồn kinh phí Trung ương, ngân sách thành phố và vận động xã hội hóa. Tổ chức đưa 04 đoàn Người có công (261 người) các quận, huyện đi điều dưỡng tập trung; thực hiện chế độ điều dưỡng tại gia đình cho 1.744 đối tượng là người có công với cách mạng; Tổ chức đưa 45 người Người có công với cách mạng tại các quận, huyện tham quan Thủ đô Hà Nội. Đưa 05 người có công tiêu biểu thành phố Cần Thơ đi dự Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng toàn quốc tại thành phố Vũng Tàu.

- Bảo trợ xã hội: Trợ cấp thường xuyên cho 39.256 đối tượng bảo trợ xã hội ở ngoài cộng đồng. Tổ chức giám sát, kiểm tra công tác chi trả trợ cấp qua hệ thống bưu điện. Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 32.541 đối tượng (đảm bảo 100% đối tượng được cấp thẻ BHYT); chi trả mai táng phí cho 1.629 đối tượng. Đảm bảo 100% hộ nghèo và hộ cận nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế.

Tổ chức Ngày hội Thể dục thể thao, kết hợp trao xe đạp và hợp đồng bảo hiểm cho trẻ em với tổng kinh phí là 185 triệu đồng. Chương trình tổ chức trao 20 xe đạp, 05 hợp đồng bảo hiểm cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và 400 phần quà cho trẻ em. Tổ chức khám sàng lọc cho trẻ em khuyết tật vận động năm 2018 tại các quận, huyện (đã tổ chức khám đợt 1 cho 69/226 trẻ). Thành phố và quận, huyện vận động các nhà hảo tâm, mạnh thường quân tặng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn 6.102 phần quà, với tổng kinh phí là 1,082 tỷ đồng. Tổ chức các hoạt động Tết Trung Thu năm 2018.

Tổ chức Hội thảo chuyên đề “Quyền bình đẳng của lao động nữ trong doanh nghiệp” nhân kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3. Treo 240 băng rôn tuyên truyền về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trên các tuyến đường thuộc quận Ninh Kiều, Cái Răng và Bình Thủy nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3. Tuyên truyền về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trên Báo Cần Thơ và Báo Lao động  Xã hội.

Trung tâm Bảo trợ xã hội nuôi dưỡng tập trung 574 đối tượng (lang thang: 99; Tâm thần kinh: 475). Hướng dẫn, tư vấn cho thân nhân, gia đình có nhu cầu xin bảo lãnh về gia đình tiếp tục quản lý và điều trị trên 1.140 lượt người. Đảm bảo 100% việc cung cấp lương thực, thực phẩm và tổ chức nấu ăn hàng ngày cho đối tượng đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Tổ chức phục hồi chức năng cho đối tượng bằng nhiều hình thức với 6.054 lượt tham gia; Duy trì việc vận hành các trang thiết bị phục hồi chức năng, vật lý trị liệu đã được cung cấp cho mô hình phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí cho các đối tượng có khoảng 5.559 lượt tham gia. Khám, điều trị bệnh thông thường 9.414 lượt; Khám và chỉnh liều thuốc tâm thần 614 đối tượng, mời Bệnh viện Tâm thần kinh Cần Thơ khám và kết luận cho 54 đối tượng.

Trung tâm Công tác xã hội nuôi dưỡng tập trung 82 đối tượng. Trung tâm luôn đảm bảo chế độ ăn cho đối tượng. Duy trì hoạt động Mô hình Câu lạc bộ Tuổi hồng: tổng số có 07 địa phương đang triển khai mô hình Giáo dục phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn cảnh đặc biệt tại 07 quận/huyện; Thực hiện 26 buổi truyền thông, giáo dục kỹ năng sống cho 780 lượt trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.

c. Hoạt động giáo dục

Năm học 2017 - 2018 là năm học có nhiều bước tiến đáng kể của giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ:

Tổ chức thành công Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018. Tỷ lệ xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2018 đạt 97,09%, tăng 0,28% so với năm 2017 (bao gồm cả GDTP, GDTX và thí sinh tự do), trong đó THPT là 98,43%, GDTX là 82,97%. Tỷ lệ học sinh lớp 12 đỗ vào các trường đại học, cao đẳng (tính đến 13/8/2018) là 50,24%.

Chất lượng giáo dục được đảm bảo và nâng cao. Trong năm học, có 1.578 học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi, cuộc thi cấp thành phố và quốc gia.

Tăng cường đầu tư sách, thiết bị trường học nhằm tạo điều kiện tích cực trong dạy và học, bổ sung cho các trường đạt chuẩn quốc gia, các trường mầm non tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục mầm non năm tuổi, thực hiện Đề án dạy học ngoại ngữ và trang bị bổ sung cho các trường mới xây dựng, thay thế các thiết bị đã bị hư hỏng với tổng kinh phí 69,6 tỷ đồng.

 

Công tác chuẩn bị khai giảng năm học 2018 – 2019:

Công tác tổ chức tuyển sinh đầu cấp năm học 2018 – 2019: Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 được tổ chức công khai, an toàn, nghiêm túc đúng quy định. Mỗi thí sinh được đăng ký tối đa 5 nguyện vọng và tuyển sinh bằng hình thức trực tuyến từ khâu đăng ký dự thi đến khâu công bố kết quả thi. Đây là điều kiện thuận lợi và thí sinh có nhiều cơ hội lựa chọn trường để dự tuyển. Tổng số thí sinh đăng ký dự thi: 13.309; tổng số thí sinh trúng tuyển: 11.129, tỷ lệ 75,12% (so với số học sinh tốt nghiệp THCS). Số thí sinh không trúng tuyển sẽ được hướng dẫn đăng ký vào các trường ngoài công lập, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, các trường trung cấp trên địa bàn thành phố đảm bảo phân luồng sau trung học cơ sở.

Kết quả tuyển sinh lớp 1 và lớp 6 năm học 2018 - 2019 (thời điểm ngày 11 tháng 8 năm 2018): Tỷ lệ học sinh trong địa bàn trúng tuyển vào lớp 1 năm học 2018 - 2019 là 97,84%. Tỷ lệ học sinh trong địa bàn trúng tuyển vào lớp 6 năm học 2018 - 2019 là 99,6%.

Quy mô trường lớp và học sinh đầu năm học 2018 - 2019 (thời điểmngày 31/8/2018) Toàn thành phố hiện có 457 trường với 236.948 học sinh, trong đó: Mầm non: 178 trường; Tổng số trẻ: 39.203 (Nhà trẻ: 4.876; Mầm non: 34.327). Tiểu học: 180 trường; Tổng số học sinh: 98.387. Trung học cơ sở: 66 trường; Tổng số học sinh: 68.270. Trung học phổ thông: 33 trường; Tổng số học sinh: 31.088.

Để chuẩn bị cho năm học mới, Sở GD&ĐT đã thực hiện sửa chữa 12 công trình trường học (sơn tường, sửa chữa khu vệ sinh, chống thấm, sửa nền, hệ thống thoát nước, chống dột…) với tổng kinh phí là 8,3 tỷ đồng.

Trong dịp khai giảng năm học mới, có 04 công trình xây dựng mới được đưa vào sử dụng: Trường THCS&THPT Trần Ngọc Hoằng (Khu hiệu bộ và 06 phòng học), THPT Trần Đại Nghĩa (Các phòng thí nghiệm thực hành), THPT Phan Ngọc Hiển (Khu hiệu bộ, các phòng chức năng, thí nghiệm thực hành), THCS&THPT Trường Xuân (Khu hiệu bộ và các phòng chức năng, thí nghiệm thực hành).

Ngoài ra, Sở GD&ĐT đã triển khai kế hoạch mua sắm sách và trang thiết bị phục vụ công tác dạy học, quản lý năm học 2018 - 2019 với tổng kinh phí trên 64 tỷ đồng.

Sáng ngày 05 tháng 9 năm 2018, các trường đồng loạt tổ chức Lễ khai giảng năm học 2018 - 2019 đúng hướng dẫn của ngành đảm bảo trang trọng, vui tươi và an toàn. Tại các đơn vị, lãnh đạo thành phố, các doanh nghiệp, mạnh thường quân, Ban đại diện Cha mẹ học sinh đã tặng nhiều phần quà, học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng.

Ngành giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ hỗ trợ 78 suất trợ cấp cho giáo viên và học sinh có hoàn cảnh khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo với tổng số tiền hơn 116 triệu đồng.

Từ đầu năm 2018 đến nay, công nhận 6/23 trường đạt chuẩn quốc gia (03 trường mầm non, 01 trường tiểu học, 01 trường trung học cơ sở, 01 trường trung học phổ thông), tỷ lệ 26,08%.

d. Hoạt động Y tế

9 tháng năm 2018, tình hình dịch bệnh ổn định, không có vụ dịch nguy hiểm xảy ra. Tuy nhiên lũy tích đến nay: Sốt xuất huyết ghi nhận 650 trường hợp mắc tại 9 quận huyện, không ghi nhận trường hợp tử vong, so cùng kỳ năm 2017 là 870 ca, số mắc giảm 25,29%. Tay chân miệng ghi nhận mắc 424 trường hợp, so cùng kỳ 604 ca, số mắc giảm 29,8%. Cúm A/H1N1 phát hiện 01 trường hợp, tăng 01 trường hợp so với cùng kỳ (tiếp nhận bệnh nhân chuyển từ Vĩnh Long đến). Thủy đậu ghi nhận mắc 37 trường hợp.

Triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; đảm bảo đủ thuốc, máu, dịch truyền, vật tư, hoá chất, giường bệnh, phương tiện và đội ngũ y bác sỹ sẵn sàng ứng phó khi dịch bệnh xảy ra; đảm bảo thu dung, cấp cứu điều trị và cách ly người bệnh theo đúng hướng dẫn hiện hành về phòng chống dịch đặc biệt là trong dịp tết, lễ hội.

Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân trong công tác khử khuẩn, diệt côn trùng; giám sát việc xử lý các ổ dịch SXH - TCM tại các quận/huyện.

Triển khai Kế hoạch phát động toàn dân phòng, chống dịch chủ động; Kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng tuần lễ glôcôm thế giới với chủ đề "Hãy khám sàng lọc glôcôm sớm để bảo vệ đôi mắt bạn" nhằm vận động toàn xã hội nâng cao nhận thức về chăm sóc mắt và các hoạt động về phòng chống bệnh glôcôm.

Tổ chức chương trình sàng lọc, tư vấn sức khỏe tim mạch cho cộng đồng, hưởng ứng ngày Tim mạch thế giới năm 2018 tại các huyện Phong Điền, Thới Lai và quận Thốt Nốt.

Công tác phòng, chống HIV/AIDS: 9 tháng năm 2018, lũy tích số nhiễm HIV phát hiện được 6.003 trường hợp; trong đó, tử vong 2.437 trường hợp, số nhiễm HIV còn sống 3.566 trường hợp.

Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone: Duy trì 05 cơ sở điều trị (tại quận Ninh Kiều, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS); 05 cơ sở cấp phát thuốc ethadone (tại Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội và quản lý sau cai thành phố Cần Thơ; Trung tâm Y tế các quận, huyện: Vĩnh Thạnh, Bình Thủy, Thới Lai và Phong Điền). Hiện đang duy trì điều trị cho 422 người, đạt 70,33% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2018 (chỉ tiêu: 600).

Chương trình điều trị ARV: Hiện nay có 2.689 người nhiễm HIV được điều trị ARV tại 07 phòng khám ngoại trú người lớn, 01 phòng khám ngoại trú nhi và tại 19 điểm cấp thuốc ARV tại phường, xã và quận, huyện.

Công tác khám chữa bệnh: Công suất sử dụng giường tại các tuyến đạt 115,86%. Các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc thực hiện tốt quy chế chuyên môn, đảm bảo các quy trình kỹ thuật trong khám chữa bệnh đồng thời tăng cường công tác khám chữa bệnh và quản lý quỹ BHYT.

Đảm bảo an ninh trật tự và công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong dịp lễ, tết. Phục vụ y tế các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch… trên địa bàn thành phố.

e. Hoạt động Văn hoá, thể thao

Trong 9 tháng đầu năm, thành phố đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao và du lịch sôi nổi, liên tục để chào mừng các ngày lễ, tết, kỷ niệm, sự kiện lớn của đất nước, tạo không khí vui tươi phấn khởi trong nhân dân thành phố.

Hoạt động văn hóa:

Nghệ thuật: Tổ chức 57 chương trình nghệ thuật phục vụ nhân dân trong dịp tết, các ngày lễ, kỷ niệm, sự kiện chính trị, thu hút 87.000 lượt người xem; tiêu biểu như Chương trình nghệ thuật “Cần Thơ - Chào năm mới 2018”, đón giao thừa Xuân Mậu Tuất 2018 kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân - 1968, với chủ đề “Cần Thơ - 50 Năm Hào Khí Mùa Xuân”; chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tổ chức tại huyện Cờ Đỏ và chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 73 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, tổ chức tại huyện Vĩnh Thạnh. Tổ chức 129 chương trình biểu diễn nghệ thuật định kỳ tại Bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng, Sân chơi Tài tử tại Cầu đi bộ, thu hút 300-500 lượt người xem/chương trình.

- Liên hoan, hội thi và hội diễn: Cấp thành phố tổ chức 04 cuộc, đạt 80% KH/năm. Cấp khu vực và toàn quốc tham gia 02 cuộc, đạt 67% KH/năm.

- Đoàn Ca múa kịch Lưu Hữu Phước và Đoàn Cải lương Tây Đô (thuộc Nhà hát Tây Đô) tổ chức và phối hợp tổ chức biểu diễn 84 cuộc, đạt 84% KH/năm; phục vụ 46.700 lượt người xem, đạt 93,4% kế hoạch năm.

- Các đội tuyên truyền lưu động toàn thành phố thực hiện 42 kịch bản, đạt 135,5% kế hoạch năm; biểu diễn 335 buổi, đạt 79,8% kế hoạch năm; thu hút 161.100 lượt người xem, đạt 127,8% kế hoạch năm.

Công tác bảo tàng: Tổ chức phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng thành phố, Trạm vệ tinh ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam tại Cần Thơ; trưng bày chuyên đề, triển lãm ảnh và thực hiện công tác giáo dục truyền thống và di sản văn hóa trong học đường; tổ chức chương trình “Sắc xuân miệt vườn” năm 2018 với sự tham gia của 73 nghệ nhân, 35 gian nhà, 50 loại hình trình diễn, tại Bảo tàng thành phố, phố Ông Đồ, tại đường Hòa Bình, Trần Quốc Toản Công viên Tao Đàn, thu hút 27.000 lượt khách tham quan; tổ chức Lễ dâng hương hướng về Ngày Giỗ tổ Hùng Vương năm 2018, khoảng 650 đại biểu và nhân dân tham dự. Luân chuyển bộ ảnh “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” để triển lãm tại các quận, huyện trên địa bàn thành phố, thu hút 155.149 lượt khách, đạt 155% KH/năm. Tổ chức sưu tầm và xác minh 640 hiện vật (đạt 320%), vượt 220% KH/năm. Thực hiện hồ sơ khoa học đề nghị Bộ VHTTDL đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp đối với Hò Cần Thơ; sưu tầm và phục dựng Lễ hội Ok Om Bok của đồng bào Khmer ở TP Cần Thơ.

Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa: Các di tích lịch sử - văn hóa đã xếp hạng trên địa bàn thành phố, hoạt động giáo dục truyền thống, di sản văn hóa trong học đường và triển lãm ảnh chuyên đề, thu hút 518.383 lượt người xem, đạt 212% KH năm. Tổ chức 17 chương trình tuyên truyền về di tích tại các trường học, đạt 189% KH năm, thu hút 8.776 lượt học sinh tham dự. Tham mưu UBND thành phố ban hành quyết định xếp hạng Đình Vĩnh Trinh (huyện Vĩnh Thạnh) và Đình Thới Bình (quận Ninh Kiều) di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố (nâng tổng số di tích đã được xếp hạng lên 32). Xuất bản 1.000 ấn phẩm giới thiệu di tích LS-VH Chiến thắng Ông Hào (song ngữ Việt - Anh); Thực hiện 1.000 ấn phẩm giới thiệu về di tích lịch sử Khám lớn Cần Thơ, bằng 3 thứ tiếng (Việt - Anh - Pháp); Biên soạn nội dung sách Di tích LS-VH thành phố Cần Thơ.

 

Thể dục, thể thao:

Thể dục, thể thao quần chúng: Tổ chức 21 giải thể thao cấp thành phố, quốc gia và quốc tế; thu hút tổng cộng khoảng 61.000 lượt người xem, gồm: Khai mạc Tuần Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Giải Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ V năm 2018; Giải thi diễn các môn võ thuật Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Mậu Tuất năm 2018 và Giải Lân Sư Rồng thành phố Cần Thơ năm 2018; Giải trò chơi dân gian TP Cần Thơ năm 2018, Giải Trẻ Vovinam TP Cần Thơ năm 2018; Giải Trẻ Cờ vua TP Cần Thơ năm 2018; Giải Trẻ Bơi TP Cần Thơ năm 2018; Giải Thể thao và họp mặt “Kỷ niệm 72 năm ngày truyền thống ngành TDTT 27/3”; Giải Thể thao Tết Chôl Chnăm Thmây Đồng bào dân tộc Khmer thành phố năm 2018; Giải Vô địch các CLB Vovinam TP Cần Thơ năm 2018; Giải Vô địch Bóng chuyền TP Cần Thơ năm 2018; Giải Vô địch các CLB Bóng rổ 3x3 TP Cần Thơ mở rộng 2018; Giải Vô địch trẻ Xe đạp TP Cần Thơ mở rộng năm 2018; Giải Lân - Sư - Rồng TP Cần Thơ mở rộng và Giải Vô địch Taekwondo TP Cần Thơ lần thứ 3 năm 2018; Giải Cầu lông TP Cần Thơ năm 2018, chào mừng Kỷ niệm Ngày Gia đình Việt Nam 28/6; Giải vô địch Đua Vỏ Composite ĐBSCL, lần thứ IV - năm 2018, chào mừng Ngày hội du lịch “Văn hóa chợ nội Cái Răng”, lần thứ III; Giải Đua thuyền truyền thống lần thứ II - năm 2018, trong khuôn khổ “Ngày hội Du lịch - Đêm Hoa Đăng Ninh Kiều”, lần thứ II - năm 2018; Giải Vô địch - Vô địch trẻ Karate TP Cần Thơ năm 2018; Giải Vô địch Bóng đá TP Cần Thơ năm 2018.

Tổ chức lớp phổ cập bơi cho trẻ em tại các quận, huyện trên địa bàn thành phố năm 2018, kết quả: Thốt Nốt có 35 học viên, Bình Thủy có 50 học viên, Phong Điền có 41 học viên, Thới Lai có 60 học viên.

Thể thao thành tích cao: Tổ chức 12 giải thể thao quốc gia và quốc tế, thu hút 80.000 lượt người xem, gồm: 03 Giải Đua xe môtô 125cc - 135cc - 150cc; Giải Bóng chuyền bãi biển nữ Châu Á năm 2018; Giải Bóng đá học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở thành phố lần thứ III tranh “Cúp Cửu Long; Giải Billiards và Snooker vô địch Câu lạc bộ toàn quốc năm 2018; Giải trẻ và giải vô địch Bóng chuyền bãi biển năm 2018; Tổ chức các trận thi đấu của đội Bóng đá Xổ số kiến thiết Cần Thơ giải Vô địch quốc gia năm 2018, tại sân vận động Cần Thơ. Tổ chức đón các đoàn đua xe đạp.

Tham dự 72 giải thể thao, đạt 422 huy chương các loại (đạt 114% kế hoạch năm): 127 HCV – 135 HCB – 160 HCĐ.

f. Tình hình tai nạn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông thành phố Cần Thơ tình hình tai nạn giao thông tháng 9 năm 2018 (từ ngày 16/8/2018 đến ngày 15/9/2018) trên địa bàn thành phố đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 07 người, bị thương 04 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ giảm 02 vụ, số người chết giảm 03 người, số người bị thương tăng 02 người. 9 tháng năm 2018, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 74 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 76 người, bị thương 28 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tăng 11 vụ, số người chết tăng 10 người, số người bị thương tăng 06 người.

                                                                                                                       CỤC THỐNG KÊ TP. CẦN THƠ

Các biểu số liệu:

01. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn

Xem

02. Chi ngân sách nhà nước địa phương

Xem

03. Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15/8/2018

Xem

04. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Xem

05. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Xem

06. Số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

07. Vốn đăng ký và vốn bổ sung của dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới

Xem

08. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội

Xem

09. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Xem

10. Vận tải hành khách và hàng hóa  

Xem

Các tin khác
Tình hình KT-XH tháng 01 năm 2019 (25/01/2019)
Tình hình KT-XH tháng 12 năm 2018 (28/12/2018)
Tình hình KT-XH tháng 11 năm 2018 (28/11/2018)
Tình hình KT-XH tháng 10 năm 2018 (26/10/2018)
Tình hình KT-XH tháng 08 năm 2018 (28/08/2018)
Hội nghị xúc tiến đầu tư thành phố Cần Thơ - 2018 (06/08/2018)
Tình hình KT-XH tháng 7 năm 2018 (30/07/2018)
Tình hình KT-XH 6 tháng đầu năm 2018 (26/06/2018)
Tình hình KT-XH tháng 05 năm 2018 (28/05/2018)
Tình hình KT-XH tháng 04 năm 2018 (27/04/2018)
Thông báo
Quyết định số 03/QĐ-CTK ngày 18/01/2019 của Cục trưởng Cục Thống kê thành phố Cần Thơ v/v phân công công tác của Lãnh đạo Cục Thống kê thành phố Cần Thơ
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 02/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01-2019
10 Luật có hiệu lực từ 01/01/2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12-2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9/2018
Nghị định số 103/2018/NĐ-CP ngày 07/8/2018 của Chính phủ Quy định một số cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, ngân sách và phân cấp quản lý đối với thành phố Cần Thơ
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2018
Lịch nghỉ lễ, Tết năm 2019
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2018
Cán bộ, công chức cần biết từ 01/7/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 4/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 3/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 02/2018
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2018
Nghị định số 85/2017/NĐ-CP ngày 19/7/2017 quy định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thống kê tập trung và thống kê bộ, cơ quan ngang bộ
Thay đổi mã vùng điện thoại cố định
Tin video
Đang online: 3625
Hôm nay: 3,999
Hôm qua: 14,212
Tuần này: 112,508
Tuần trước: 186,858
Tháng này: 596,343
Tháng trước: 739,381
Tất cả: 1,982,279
Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 160, Lý Tự Trọng, P.An Cư, Q.Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Điện thoại: (0292) 3734 641 Email: cantho@gso.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Lê Ngọc Bảy - Cục trưởng Cục Thống kê TP. Cần Thơ